Các cây thuốc và vị thuốc chữa lỵ

Mộc Hoa Trắng

03:26 28/04/2017

Còn gọi là cây sừng trâu, cây mức lá to, thừng mực to lá, mức hoa trắng, mộc vài (Thổ), míc lông.

Tên khoa học Holarrhena antidysenteria Wall, (Echites antidỵsenterica Roxb, Wrightia antỉdysenterica Grah.).

Thuộc họ Trúc đào (Apocynaceae).

Ta dùng hạt và vỏ cây mộc hoa trắng. antidysenteria

A. Mô tả cây

Cây nhỏ hoặc cây to, có thể cao tới 12m. Cành non nhẵn hoặc mang lông màu nâu đỏ, trên mặt có nhiều bì khổng trắng rõ. Sẹo lá còn sót lại thường nổi lên. Lá mọc đối gần nhu không cuống, không có lá kèm, nguyên, hình bầu dục đầu tù hay nhọn, đáy lá tròn hoặc nhọn, dài từ 12-15cm, rộng từ 4-8cm, mặt lá bóng, màu xanh lục nhạt.

Hoa trắng, mọc thành xim hình ngù ở kẽ lá hay đầu cành. Quả là những đại màu nâu có vân dọc hơi hình cung dài 15-30cm, rộng 5- 7mm. Rất nhiều hạt dài 10-20mm, rộng 2- 2,5mm, dày l-l,5mm màu nâu nhạt, đáy tròn, đầu hơi hẹp lõm một mặt, trên mặt có một đường con màu trắng hơi nhạt. Chùm lông của hạt màu hơi hung hung, dài 2-4,5cm . Lá mầm gấp nhiều lần. Mùa hoa nờ: tháng 3 đến tháng 7, mùa quả: tháng 6-12.

Mộc hoa trắng và tác dụng chữa bệnh của nó

B. Phân bố

Mọc khắp nơi ở Việt Nam. Tại miền Bắc có ở Băc Giang, Bắc Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây, Hòa Bình và nhiểu tỉnh khác. Còn mọc ở Ân Độ, Miến Điện, Thái Lan, Malaixi

C. Thành phần hóa học

Từ vỏ và hạt cây mộc hoa trắng người ta đã chiết xuất các ancaloit chủ yếu sau đây:

- Conesin

- Norconesin

- Conesimin

- Isoconesimin

- Conesinidin

- Conkurchin

- Holarhenin

Chất conesin có tinh thể hình lăng trụ (kết tinh trong axêtôn) độ chảy 125°, aD= -1,9° (CHCỤ hoặc + 21°6 (C2H5OH). bromhydrat và oxalat có tinh thể.

Conesin cho phản ứng sau đây: Hòa tan một ít conesin trong 8 giọt H2S04. Thêm một giọt HN03 đặc vào sẽ có ngay màu vàng tươi. Màu vàng sẫm dần. Nếu thêm một giọt axit nitric nữa, sẽ ngả mầu nâu bẩn, sau ngả mầu lục. Theo Ciaus J. F. Mhaskar trong hạt mộc hoa trắng có từ 36-40% dầu và 0,025% ancaloit.

D. Tác dụng dược lý

Chất conesin rất ít độc. Với liều cao, tác dụng của nó gần giống mocphin, nó gây liệt đối với trung tâm hô hấp. Nếu tiêm, nó gây tê tại chỗ nhưng lại kèm theo hiện tượng hoại thư do đó không dùng gây tê được.

Conesin bài tiết một phần qua đường ruột, một phần qua đường tiểu tiện. Nó gây hạ huyết áp và làm tim đập châm. Conesin kích thích sự co bóp ruột và tử cung. Theo Janot M. M. và Cavier R. (1949. Ann. Pharmaceut. Franc: 549-552) conesin clohydrat, có tác dụng trừ giun đối với chuột bạch.

Trên lâm sàng, ngưòi ta dùng conesin clohydrat hay bromhydrat chữa lỵ amip. Hiệu lực như emetin lại hơn emetin ở chỗ ít độc và tiện dùng. Nó tác dụng cả đối với kén và amip, còn cmetin chỉ tác dụng đối với amip. Hiện tượng không chịu thuốc rất ít hoặc không đáng kể.

E. Công dụng và liều dùng

Hạt và vỏ được dùng làm thuốc chữa lỵ amip. Thường dùng dưới dạng bột, cồn thuốc hoặc cao lỏng. Bột vỏ ngày uống lOg Bột hạt ngày uống 3-6g Cao lỏng 1/1 ngày uống l-3g Cồn hạt (1/5) ngày uống 2-6g

Mộc Hoa Trắng 4.85/5 (96.70%) 6 votes