Vị thuốc vần B

Ba Chạc

08:59 15/05/2017

Ba Chạc có tên đồng nghĩa: Euodia triphylla DC, Melicope ptelefolia (Champ, ex Benth.) Hartley

Tên khác: Chè đắng, cây dầu dấu, chè cỏ, hủ nậm, thùa kheo, bí bái đực, chẳng ba, ba gạc tắm ghẻ, bẩu khâm (Tày), co sám véng (Thái).

Họ: Cam (Rutaceae)

Mô tả

Cây nhỏ, cao 1 - 3 m, có khi hơn. Cành non có lông, sau nhẵn. Lá kép mọc đối, có 3 lá chét, mép nguyên, lá non có lông rất mịn, lá chét hình trái xoan, đài 4,5 - 13 cm, rộng 2,5 - 5,5 cm, gốc thuôn, đầu nhọn, cuống lá dài có lông, tầy ở phần đính vào thân; cuống lá chét không có hoặc rất ngắn.

Cụm hoa mọc thành xim ở kẽ lá; lá bắc nhỏ; hoa màu trắng; lá đài hình trái xoan, có lông ở mép; cánh hoa 4 - 5, dài gấp ba lần lá đài, hơi khum ở đầu, nhẵn; nhị 4, chỉ nhị bằng hoặc dài hơn cánh hoa; bầu hình trứng, có lông, vòi nhuỵ nhẵn, đầu nhuỵ có 4 rãnh.

Quả hình trái xoan, khi chín màu đỏ, chia làm 2 - 4 mảnh; hạt hình cầu, màu đen bóng. Toàn cây có tinh dầu thơm.

Mùa hoa quả: tháng 4-7.

Tránh nhầm với cây chạc ba (Allophylus sp.) có tác dụng hàn gân.

Ba chạc và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Euodia Forst et Forst có tới vài chục loài, bao gồm những đại diện là cây bụi hay cây gỗ, phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới, từ Đông Madagascar đến Đông Á, Australia và ở cả một số đảo ở Thái Binh Dương. Ở Việt Nam, chi này có khoảng 10 loài, trong đó ba chạc là loài gặp rải rác ở khắp nơi, từ miền Nam đến miền Bắc. Cây còn phân bố ở vùng Nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan và Ấn Độ... Ba chạc là cây bụi ưa sáng, chịu được hạn và có thể sống được trên nhiều loại đất khác nhau.

Cây thường gặp ở các vùng đồi, rừng thứ sinh, rừng thưa hoặc trong các rú bụi ờ vùng đồng bằng. Độ cao phân bố giới hạn ở Miền Bắc có thể tới gần 1500m. Do tính chất mọc nhanh và ưa sáng nên ba chạc cũng nằm trong nhóm những cây tiên phong trên đất sau nương rẫy. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, lượng tái sinh cây con xung quanh cây mẹ nhiều. Ngoài ra, hạt ba chạc còn được phát tán xa nhô các loại chim ăn quả.

Cách trồng

Ba chạc là cây sống khoẻ, không kén đất, có khả năng chịu hạn, ít bị sâu bệnh. Chưa có nơi nào trồng tập trung mà chỉ được trồng rải rác trong nhân dân để làm hàng rào, trên bờ ao, ven đường và trong các vườn cây thuốc.

Ba chạc được nhân giống bằng hạt. Cây có nhiều hạt và dễ nảy mầm. Vào tháng 2-3, hạt được gieo trong vườn ươm. Khi cây cao 40 - 50 cm thì đánh đi trồng. Khi trồng, đào hổ cách nhau 3 - 5m. Có thể bón lót cho mỗi hố 2 - 3 kg phân chuồng rồi đặt cây, tưới ẩm. Tránh trồng vào mùa đông, cây phát triển chậm.

Lá cây được thu hái thường xuyên để làm thuốc, nên hàng năm cần bón thêm phân, vun xới để cành lá được xum xuê. Cây ba chạc có khả năng tái sinh mạnh, có thể đốn thân cành để kích thích cây tạo ra nhiều cành mới.

Bộ phận dùng

Lá thu hái quanh năm đùng tươi hoặc phơi khô. Thân và rễ thái lát, phơi khô.

Thành phần hóa học

Lá và rễ ba chạc chứa alcaloid. Lá, vỏ quả, vỏ rễ có tinh dầu mùi thơm nhẹ, tinh dầu có a- pinen và furfuraldehyd.

Tác dụng dược lý

1. Tác dụng kháng khuẩn:

Nghiên cứu ở Trung Quốc thấy nước sắc lá ba chạc (1/1) có tác dụng ức chế trực khuẩn lỵ Shigella ở nồng độ pha loãng 1:25, không có tác dụng trên trực khuẩn bạch hầu Corynebacterium diphtheriae. Ở Việt Nam cao lỏng lá và cành non có tác dụng không đáng kể trên các vi khuẩn Bacillus pyocyaneus, Proteus, Shigella sonnei, Shigella slĩiga, Salmonella typhi, Escherichia coli, Klebsiella, Sarcina lutea và nấm Candida albicans.

2. Tác dụng lợi sữa:

Trên mô hình diều chim bồ câu, cao cồn và nước sắc lá và cành non ba chạc, liều tính theo được liệu khô là lOg/kg/ngày, uống 10 ngày làm cho tế bào biểu mô diều chim bồ câu chuyển sang hình đăng ten, trong đó có 1/5 con đã hình thành tuyến sữa, tức là có tác dụng lợi sữa.

3. Độc tính cấp:

Cao nước lá và cành non cho chuột nhắt trắng uống, đã xác định được LD50 là 300g/kg tính theo dược liệu khô, tức là có độc tính cấp rất thấp.

4. Dược lý lâm sàng:

Thử cho 35 người cho con bú, uống nước sắc lá và cành non khô ngày 12g liền nhiều ngày. Sau 3 ngày, sữa tăng nhiều là 15 (42,8%), tăng vừa 14 (40%), không có kết quả 6 (17,2%).

Tính vị, công năng

Ba chạc có vị đắng, mùi thơm, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trừ bệnh ôn nhiệt, trừ thấp, chống ngứa, giảm đau, lợi sữa.

Công dụng

1. Lá ba chạc:

dùng ngoài, chữa ghẻ, mụn nhọt, lở ngứa, chốc đầu. Ở Trung Quốc còn chữa vết thương nhiễm khuẩn, viêm mủ da, áp xe, eczema. Lá tươi, nấu nước tắm, rửa hoặc giã đắp. Dùng trong, chữa bệnh viêm họng, viêm amiđan, ho, mắt mờ, trẻ em sốt cao sinh kinh giật, phụ nữ mới đẻ ít sữa, kém ăn, hoặc bị chứng nhiệt sinh khát. Ở Trung Quốc còn để phòng bệnh cúm, bệnh truyền nhiễm, viêm não, đột quỵ tim, cảm lạnh, viêm gan. Ngày 20 - 40g sắc uống hoặc nấu cao.

2. Rễ và vỏ thân:

chữa phong thấp, đau gân nhức xương, tố bại, bán thân bất toại, kinh nguyệt không đều. Trung Quốc còn chữa ngộ độc lá ngón. Ngày 8 - 24g sắc uống.

Bài thuốc có ba chạc

1. Thuốc bổ đắng (làm ăn ngon, dễ tiêu) đặc biệt cho phụ nữ sau khi đẻ: Ngày 8 - 16g lá hoặc 4 - 12g rễ, sắc uống.

2. Thuốc lợi sữa: Ngày 8 - 16g lá sác uống nhiều ngày.

3. Thuốc điều kinh: Ngày 4 - 12g rễ, vỏ thân sắc uống.

4. Chữa viêm họng, viêm amidan, ho, viêm loét lưỡi, miệng, viêm gan vàng da, viêm dạ dày: Ngày 12 - 20g lá tươi sắc uống. Trường hợp viêm ở miệng thì ngậm và nuốt dần.

5. Chữa sốt, ngộ độc, háo khát, nước tiểu vàng nâu: Ngày 20g lá khô hoặc 40g lá tươi sắc uống.

6. Chữa phong thấp, viêm khớp, lưng gối đau nhức, tê bại, đau dây thần kinh hông: Ngày 20 - 40g rễ sắc uống hoặc rễ ba chạc, dây đau xương, câu đằng, tầm gửi cây dâu. Mỗi vị 20 -30g, sắc uống.

7. Thuốc phòng cúm, bệnh truyền nhiễm, viêm não: Ba chạc (lá) 15g, rau má 30g, đơn buốt 15g, cúc chỉ thiênl5g. sắc uống.

Ba Chạc 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC