Vị thuốc vần B

Bọ Cạp

03:25 19/05/2017

Bọ Cạp có tên khác: Bọ cạp rừng, toàn trùng.

Tên nước ngoài: Scorpion (Anh, Pháp).

Họ: Bọ cạp (Buthidae).

Mô tả

Loài bọ cạp thân nhỏ (Archisometrus mucronatus) và nhiều loài khác thuộc chi Buthiurus hoặc Heteronectrus cũng được dùng.

Bọ cạp và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Trên thế giới, có nhiều loài bọ cạp thuộc những chi khác nhau, đặc biệt là loài Buthus martensi Karsch, hiện vẫn đang phải nhập. Ở Việt Nam, bọ cạp phân bố ở khắp nơi trong nước, từ đồng bằng đến miền núi trong những khu rừng ẩm ướt và cả ngoài hải đảo. Nó sống ở chỗ nóng và ẩm, dưới tầng lá mục, hốc đá, khe vách, kiếm mồi về đêm. Thức ăn của bọ cạp là sâu bọ, nhện, bướm... Cách bắt mồi của bọ cạp rất độc đáo. Nó dùng đôi càng khỏe cặp chặt con mồi, cong đuôi về phía trước rồi dùng móc độc giết mồi. Bọ cạp còn được nuôi ở Liên Xô trước đây để lấy nọc chế thuốc chữa bệnh.

Bộ phận dùng

- Bọ cạp được dùng cả con trong y học cổ truyền với tên thuốc là toàn yết. Có khi chỉ dùng đuôi gọi là yết vĩ. Cách chế biến bọ cạp như sau: Thường bắt bọ cạp vào mùa xuân - hạ, thả ngay vào nước trong hoặc nước có pha muối ăn với tỷ lệ 1 kg bọ cạp và 300 - 500 g muối. Đun sôi trong vài giờ, rồi vớt ra, phơi trong râm mát cho khô. Khi dùng, ngâm bọ cạp vào nước, rửa sạch cho hết muối, rồi bỏ chân và đuôi. Dược liệu hình bầu dục dài và dẹt. Toàn thân nguyên vẹn dài 5 cm. Phần đầu ngực màu nâu đen, càng và chân cong queo. Mặt lưng màu nâu, mặt bụng màu vàng nâu. Đầu đốt cuối của đuôi còn nguyên móc. Bẻ gãy phần bụng thấy bên trong có chất màu đen hoặc vàng nâu, bẻ gãy phần bụng dưới thì trong rỗng.

- Nọc bọ cạp: thu được bằng cách kích thích con vật cho nó tiết nọc rồi hứng lấy. Có thể dùng xung điện để bắt bọ cạp tiết nọc nhiều lần. Muốn có 1 g nọc, phải lấy ở 8.000 con trong một lần.

Thành phần hóa học

Bọ cạp chứa 31,84% protid, 18,94% lipid, 17 acid amin cần cho cơ thể con người (Tuần tin tức số 43, ngày 18-24 (10/1993), một chất độc là buthotoxin hay katsutoxin, các chất betain, trimethylamin, taurin, cholesterol, lecithin; các acid palmitic, stearic. Buthotoxin là một loại protid, độc với hệ thần kinh gần giống như độc tính của nọc rắn.

Tính vị, công năng

Bọ cạp có vị mặn, hơi ngọt, cay, tính bình, có độc, vào kinh can, có tác dụng trấn kinh, khu phong.

Công dụng

Bọ cạp được dùng chữa kinh giật, co quắp, méo miệng, bán thân bất toại, uốn ván, tràng nhạc, với liều hàng ngày là 2,5 - 4,5 g toàn yết (1-4 con) hoặc 1 - 1,5 g yết vĩ (3 - 5 cái) dưới dạng thuốc bột hay làm viên uống.

Bài thuốc có bọ cạp

A- Dùng ở Việt Nam

Chữa trẻ lên cơn co giật, nghiến răng, trợn mắt:

1. Bọ cạp (bỏ đầu, rút ruột, tẩm rượu, sao giòn 12 g), răng lợn (đốt cháy, 12 g), kinh giới (40 g), câu đằng (12 g), thuyền thoái (8 g), phèn phi (8 g). Tất cả phơi khô, sấy giòn, tán nhỏ, rây bột mịn, luyện vói hồ làm viên bằng hạt đỗ xanh. Trẻ em 5-6 tháng tuổi, mỗi lần uống 2 viên; 1 năm tuổi mỗi lần 3 viên; 2 năm tuổi mỗi lần 5 viên. Nghiền thuốc với nước trúc lịch (cây tre non nướng, ép lấy nước), uống ngày 2-3 lần. Kiêng kỵ: Nếu trẻ còn bú thì mẹ kiêng ăn tôm, cua, thịt gà, cá chép (Kinh nghiệm của ông Phan Khắc Định, Thanh Hóa).

2. Bọ cạp (12 g), đảng sâm (16 g), thạch xương bồ (8g), thiên ma (12 g), đởm nam tinh (12 g), cương tàm (12 g), phục linh (12 g), phục thần (12 g), bán hạ chế (12 g), viễn chí (12 g), mạch môn (12 g), bối mẫu (6g), chu sa (6 g), hổ phách (6 g), trần bì (6 g). Tất cả tán bột mịn, lấy nưóc trúc lịch, gừng, cam thảo, nấu thành cao, rồi trộn với bột trên, làm thành viên. Ngày uống 40 viên chia làm hai lần trước khi lên cơn.

3. Bọ cạp (1 con), tằm vôi (8g), giun đất (6 g). Tất cả nghiền nhỏ, sắc với 200 ml nước còn 50 ml, uống trong ngày.

B- Dùng ở Trung Quốc

1. Chữa trúng phong: Bọ cạp (1 con), rết (1 con), thấu cốt thảo (cây bóng nước, 15 g). Tất cả sao vàng, tán bột. Mỗi lần uống 7,5 g cách nhau 6 giờ. Hoặc bọ cạp (10 g), giun đất (15 g), xích thược (20 g), ngưu tất (20 g), hoa hồng (15 g). Sắc uống trong ngày.

2. Chữa thần kinh mặt tê liệt: Bọ cạp (15 g, đốt tồn tính), tằm (15 g), nam tinh (15 g), phụ tử (15 g). Tán nhỏ, trộn đều. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 5 g với nước sôi để nguội.

3. Chữa viêm loét miệng: Bọ cạp (3,5 g, sao tốn tính), tằm (5 g), hoàng liên (2,5 g), xuyên ô (3,5 g), rết 2 con, cam thảo (1 g). Tất cả tán nhỏ, rây bột. Mỗi ngày uống 1 g với nước sắc lá bạc hà. Dùng 7 ngày.

4. Chữa quai bị: Bọ cạp rán với dầu vừng, mồi ngày ăn 2 con, chia làm 2 lần. Dùng vài ngày.

Ghi chú: Từ lâu, bọ cạp cùng nhiều loại côn trùng khác đã trở thành những "món ăn côn trùng” có giá trị dinh dưỡng cao và được chế biến rất cầu kỳ trong ngành ẩm thực của nhiều nước châu Á. Trung Quốc đã có hơn 100 món đặc sản với hương vị tuyệt vời từ bọ cạp, nhất là bọ cạp nướng rất phổ biến và được ưa chuộng ở tỉnh Sơn Đông (tất nhiên phải lấy nọc độc ở đuôi ra). Nọc độc của bọ cạp có tác dụng làm tê liệt các bộ phận của cơ thể con người và súc vật.

Bọ cạp châu Phi là loại độc nhất, giết chết người nhanh hơn cả rắn độc. Vết đốt của nó gây đau đớn dữ dội, làm nạn nhân vã mồ hôi, tim đập nhanh, co giật mạnh, các cơ bị tê liệt dẫn đến tử vong.

Bọ cạp ở Việt Nam đốt chỉ gây sưng đau, nhức nhối và phù nề, nhưng không đến nỗi gây chết người. Theo tài liệu nước ngoài, gần đây, người ta đã phát hiện bọ cạp có thể sinh ra 2 loại nọc độc khác nhau (nọc kép) trong cùng một lúc. Lúc đầu, nó dùng nọc nhẹ là tiền độc tố (pretoxin) để gây tê cứng, sau đó là nọc siêu độc (TPT), một loại dịch đậm đặc giống như sữa, làm hạ gục đối phương.

Người ta cho rằng tuỳ theo từng đối tượng với mức độ đe doạ khác nhau mà bọ cạp sử dụng một trong hai thứ vũ khí lợi hại này cho phù hợp. Đó là cơ chế tiết kiệm nọc.

Bọ Cạp 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC