Vị thuốc vần B

Bọ Hung

03:26 19/05/2017

Bọ Hung có tên nước ngoài: Beetle (Anh), scaxabée (Pháp).

Họ: Bọ hung (Geotrupidae).

Mô tả

Loài côn trùng cánh cứng, cơ thể dài 3-4 cm, màu đen, hình bầu dục hoặc gần vuông, mặt lưng hơi gồ lên, mặt bụng phẳng, hai mặt đều trơn nhẩn và sáng bóng. Đầu bẹt có sừng lồi nhọn ở giữa đỉnh. Cánh trước cứng chỉ phủ kín mặt lưng, làm nhiệm vụ bảo vệ; cánh sau rất mỏng dạng màng xếp dưới cánh cứng. Râu đầu hình lá có nhiều đốt. Chân trước có gai như răng cưa dùng để đào bới. Tránh nhầm với các loài bọ hung hại lá bạch đàn.

Bọ hung và tác dụng chữa bệnh của nó

 

Phân bố, sinh thái

Bọ hung có ở các nước Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật Bản. Ở Việt Nam, nó thường sống gần những nơi nuôi gia súc như trâu, bò, ngựa, ăn phân của những con vật này và dùng chân sau đùn phân thành viên, rồi tha về tổ. Đẻ trứng trong đất, trứng nở thành sâu. Sâu non ăn rỗ cây, chồi gốc. Giữa năm 2002, ở Thanh Hóa, nhiều hecta ruộng mía đã bị bọ hung triệt phá nghiêm trọng.

Bộ phận dùng

Bọ hung, tên thuốc trong y học cổ truyền là khương lang, được bắt vào mùa hè, đập chết hoặc dùng nước nóng giết chết, bỏ đầu, chân, cánh, rồi dùng sống, nướng chín hoặc đốt thành than.

Tính vị, công năng

Bọ hung có vị mặn, tính lạnh, có độc, có tác dụng chống sài giật, trừ độc, tán ứ, rút gai dằm, tên, đạn.

Công dụng

Theo tài liệu cổ (Nam dược thần hiệu), bọ hung đốt tồn tính, tán nhỏ, uống mỗi lần 4g với nước tiểu trẻ em chữa lam chướng, sốt rét; nếu uống với rượu vào lúc đói lại chữa kiết lỵ. Để chữa chứng kinh giản, phát cuồng, trẻ em sài giật, mụn nhọt, táo bón, lấy bọ hung (1 con) đã nướng chín, sắc với 200 ml nước còn 50 ml, uống trong ngày.

Dùng ngoài, bọ hung tán nhỏ, trộn với giấm, đắp chữa mụn lở. Bọ hung (1 con) đốt tồn tính tán bột; cho bột này cùng với dầu vừng hoặc dầu lạc (50 ml) vào một củ ráy to đã khoét bỏ ruột. Nấu nhừ thành cao. Để nguội, bôi ngày 1-2 lần chữa chốc đầu. Bột bọ hung đốt tồn tính trộn vói bột băng phiến, rồi hòa vối giấm bôi lại chữa trĩ, lòi dom, tràng nhạc. Để rút mũi tên cắm vào da thịt, dùng bọ hung (hoặc bọ ngựa) 1 con, giã nát, trộn với nửa hạt ba đậu tươi đã bóc vỏ, sao qua, tán nhỏ, đắp vào vết thương, một lát sau hết đau. Khi thấy ngứa nhiều, nhổ mũi tỗn ra, rồi lấy hoàng liên và quán chúng sắc nưóc để rửa, sau cùng, lấy sáp ong nấu với dầu vừng thành cao mà đắp là khỏi.

Theo kinh nghiệm dân gian, để lấy mảnh đạn ghim trong vết thương, lấy bọ hung phối hợp với lá bồ cu vẽ, lá vông vang, rau muống, củ hành giã nhuyễn với xôi nếp hoặc bọ hung (1 con, đốt thành than), lá gió giấy hoặc lá ớt rừng (1 nắm, phơi khô, tán bột) trộn đều, tẩm rượu, đắp đối diện với vết thương bị mảnh đạn để làm thuốc tống hay đẩy. Rồi lấy hạt đỗ xanh, rau muống, rau húng dũi, lá vông vang, lá ké hoa vàng, vỏ cây chân chim, giã nát, đắp thẳng vào vết thương làm thuốc rút hay hút. Theo tài liệu nước ngoài, bọ hung sao vàng, tán bột, uống mỗi lần 1 - 2 g, ngày 2-3 lần, chữa sỏi đường tiết niệu.

Bọ Hung 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC