Vị thuốc vần C

Cà Độc Dược

10:46 15/05/2017

Tên đồng nghĩa: Datura fastuosa L., D. alba Rumph. ex Nees.

Tên khác: Cà diên, cà lục lược (Tày), sùa tùa (H' Mông), mạn đà la (Hán) plờn khiu (K' ho), hìa kía piếu (Dao).

Tên nước ngoài: White datura, white thorn - apple, recurved thorn - apple, downy thorn - apple, downy datura (Anh) ; pomme épineuse (Pháp).

Họ: Cà (Solanaceae).

Mô tả

Cây nhỏ, sống hàng năm, cao 1 - l,5m. Thân nhẵn hoặc gần như nhẵn, gốc hóa gỗ, phân cành nhiều, đôi khi ngoằn ngoèo, màu lục hoặc tím tía. Lá mọc so le, gốc có phiến lệch, đầu nhọn, mép luợn sóng, mặt trên xanh lục sẫm, mạt dưới nhạt, hai mặt lá nhẩn hoặc có rất ít lông ở mặt dưới, lá vò ra có mùi hăng hắc; cuống lá dài 2-3 cm, có khi đến 5 cm.

Hoa to mọc riêng lẻ ở kẽ lá, có cuống rất ngắn; đài hình trụ có 5 phiến; tràng rất dài có 5 cánh hoa hàn liền, xếp nếp ở trong nụ, khi nở xoè ra hình phỗng, màu trắng, đốm tím hoặc hơi vàng ở mặt ngoài; đầu cánh hoa có mũi nhọn cong; nhị dài bằng tràng, chỉ nhị đính vào ống tràng đến tận giữa.

Quả nang, hình cầu, mọc nghiêng, có gai ngắn, đường kính 2,5cm, khi chín nứt ở đỉnh thành những mảnh không đều nhau; đài tồn tại hình đĩa gập xuống; hạt nhiều, dẹt, nhăn nheo, màu vàng nâu. Mùa hoa quả: tháng 5-10. Còn có loài cà độc dược, cây rất thấp, chỉ cao 10 - 20cm. Lá chia thùy sâu. Nơi phát hiện: xã Tà Sùa, huyện Bắc Yên, tỉnh Yên Bái. Chưa xác định được tên khoa học.

Cây có công dụng tương tự:

Đó là những loài nhập trồng.

1. Datura innoxia Mill. (Wright' s datura). Nhập của Hungari. Toàn thân, lá và đài hoa có lông dày mịn. Lá có màu xanh lục sẫm; cuống lá dài 4 - 5cm, có khi đến 7cm; tràng hoa thơm có 10 răng, 5 răng thành mũi nhọn và 5 răng tù. Quả có gai dài, mềm. Cây có nguồn gốc ở Mehico.

2. Datura stramonium L. (Thorn apple, devil's apple, jinson weed, mad apple (Anh); pomme du diable, stramoine, herbe aux magiciens, herbe aux sorciers, datura officinal (Pháp). Cây nhỏ, nhẩn hoặc hơi có lông dạng phấn, cao 1 - 2 m. Lá có cuống dài, chia thùy sâu và răng không đều, đầu rất nhọn. Hoa có lá đài màu lục hoặc hơi tím; tràng màu trắng, đầu cánh hoa có mũi nhọn dài. Quả hình trứng, mọc thẳng, có nhiều gai cứng, khi chín nứt thành 4 mảnh đều nhau; hạt hình thận, màu đen nâu. Cây có lẽ có nguồn gốc ở vùng nhiệt đói châu Á.

Loài Datura suaveolens Humb. et Bonpl. (Angel trumpet) có hoa to dẹp, chuyên được trồng làm cảnh ở  Đà Lạt (Lâm Đồng).

Cà độc dược và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Datura L. có khoảng gần 15 loài trên thế giới, nguồn gốc ở vùng Nam của Bắc Mỹ (Mexico), sau phân tán đi khắp nơi. Có tài liệu cho rằng sự di nhập này có lẽ sớm hơn cả thời tìm ra châu Mỹ. Ớ châu Á thường nhắc đến 2 loài: Cà độc dược (Datura metel L) và cà dược lùn (D. tatula L.)‘ o Việt Nam, hiện có ít nhất 4 loài, bao gồm 2 loài trên và 2 loài được nhập nội khác là cà dược dài (D. suaveolens Humb. et Bonpl): gốc ở Mexico và Peru, trồng làm cảnh ở Đà Lạt, và loài cà dược Hung (D. innoxia Mill.) được Viện Dược liệu nhập từ Hungari vào năm 1974. Ngoài ra còn nhiều thứ (var.) khác nhau đã làm cho chi Datura L. Ớ Việt Nam càng thêm đa dạng so với các nước khác trong khu vực. Trong đó, loài cà độc dược có vùng phân bố rộng rãi khắp nơi từ vùng núi thấp (dưới 1000m) đến trung du và đồng bằng ven biển. Các tỉnh có cà độc dược mọc khá tập trung như Thái Bình, Thanh Hoá, Ninh Bình, Nghệ An... và vào tới Binh Thuận. Loài này hiện cũng thấy mọc hoang dại và được trồng ở Ân Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Brunei, Philippin và đảo Java của Indonesia.

Cà độc dược thường là cây sống một năm, ưa ẩm và ưa sáng, mọc trên các bãi hoang quanh làng, ven đường di... Cây thích nghi được vói nhiều loại đất khác nhau. Nhưng trên đất ẩm và màu mỡ cây sinh trưởng phát triển mạnh hơn. Hàng năm, cây con mọc từ hạt có thể quan sát dược vào cuối mùa xuân. Cây sinh trưởng nhanh trong mùa hè. Sau mùa hoa quả (giữa mùa thu) cây tàn lụi. Có một điểm đáng lưu ý là hoa quả hầu hết các loài thuộc chi Datura L. thường nở vào lúc chiều tối (D.stramonium L.), hoặc ban đêm (D. metel L.). Đến trước 10 giò sáng hoa đã tàn. Khi chín quả, nó tự mở để hạt thoát ra ngoài. Do đó, trong tự nhiên thường thấy cà độc dược mọc thành đám có khi tới vài chục cây. Duy nhất loài cà được đào trồng ở Đà Lạt chỉ thấy ra nhiều hoa nhưng không kết quả. Loài này trồng được bằng cành.

Cách trồng

Cà độc dược chưa được phát triển trổng nhiều, chỉ mới được nghiên cứu trồng thử ở một số địa phương đo Viện Dược liệu tiến hành. Thực tế cho thấy, cây có thể trồng được ở cả miền núi, trung du và đồng bằng, tốt nhất là trên đất cát pha, nhiều mùn, thoát nước. Úng ngập có thể làm cây chết hàng loạt.

Cà độc dược được gieo trồng bằng hạt vào tháng 2 - 3. Hạt có thể gieo thẳng hoặc gieo trong vưòn ươm. Nếu giữ đủ ẩm, hạt sẽ nảy mầm sau khoảng một tuần. Nếu gieo thẳng thì gieo theo hốc, mỗi hốc 5 - 7 hạt. Khi câv con được 3 lá, bắt đầu tỉa định cây, mỗi hốc chỉ giữ lại một cây khỏe nhất. Nếu gieo trong vườn ươm thường gieo vãi 2 - 3 g/m2. Sau khi gieo 25 - 30 ngày, cây con cao 12-15 cm, có 3 - 4 lá thật có thể đánh đi trồng.

Đất trồng cà độc được cần làm kỹ, để ải, bón lót 10-15 tấn phân chuồng hoai mục, 200 kg supe lân, 100 kg kali và lên thành luống cao 25 - 30 cm, rộng 40 cm để trồng một hàng, cây nọ cách cây kia 40 - 45cm. Lên luống hẹp như vậy nhằm thoát nước nhanh cho cây.

Sau khi trồng 45 - 60 ngày, cây bắt đầu ra hoa và có thể thu hoạch. Do thời gian sinh trưỏng ngắn nên cây cần được chăm bón sớm. Sau khi cây bén rễ và trước lúc ra hoa, có thể dùng nước phân chuồng, nước giải hoặc đạm pha loãng (2%) để tưới thúc. Thời kỳ đầu cần thỉnh thoảng làm cỏ.

Ngoài nguy cơ úng ngập, chưa phát hiện thấy sâu bệnh gì nghiêm trọng đối với cà độc được. Cần chú ý thoát nước nhanh sau các trận mưa.

Bộ phận dùng

Lá cà độc dược thu hái lúc cây đang ra hoa, vào buổi sáng sớm, trời nắng ráo. Lấy các lá tươi hoặc ngọn mang hoa, loại bỏ lá sâu và vàng úa, đem  phơi nắng hoặc sấy nhẹ đến khô. Nếu có điều kiện, đem diệt men ở 100° trong 15 phút trước khi sấy khô.

Theo quy định của Dược điển Việt Nam II, tập 3, 1994, lá cà độc được phải chứa ít nhất 0,12% alcaloid toàn phần biểu thị bằng hyosciamin.

Hoa đã được phơi hay sấy khô.

Theo quy định của Dược điển Trung Quốc 1997 (bản in tiếng Anh), hoa phải chứa ít nhất 0,30% alcaloid toàn phần biểu thị bằng scopolamin.

Thành phần hóa học

Hầu hết các bộ phận của cây Datura metel., đều chứa alcaloid, chủ yếu là scopolamin CnH21N04, các alcaloid khác như atropin, hyoscyamin norhyoscyamin thường ít hơn. Hàm lượng alcaloid toàn phần thay đổi từ 0,10 - 0,50%, có khi 0,6 - 0,70%, trong rễ 0,10 - 0,20%, hạt 0,20 - 0,50%, quả 0,12%, hoa 0,25 - 0,60%. Hàm lượng này còn thay đổi tùy theo thời kỳ sinh trưởng của cây và cách trồng trọt, chăm sóc, thông thường cao nhất vào thời kỳ ra hoa. Trong thời kỳ quả chín, các alcaloid di chuyển từ vỏ quả vào trong hạt. Việc bón thêm phân đạm trong quá trình trồng trọt, làm tăng đáng kể hàm lượng alcaloid toàn phần. Nếu tỉa bớt cành hoặc ngắt ngọn, lượng alcaloid sẽ giảm. Trái lại, ngắt hoa lại làm tăng, theo thí nghiệm sau: Ớ cây 4 - 5 tháng tuổi, hàm lượng từ 0,2250% đến 0,3805%, ở cây 5,5 tháng tuổi, 0,0226% - 0,3824%. Lá cà độc dược thu.hoạch vào buổi sáng sớm cho hàm lượng alcaloid cao nhất. Ngoài alcaloid, trong cây còn có các chất khác như saponin, coumarin, flavonoid, tanin và chất béo.

Hàm lượng alcaloid và các chất khác trong loài cà độc dược trồng ở Hà Nội.

Lá cà độc dược còn  chứa một alcaloid có nhân tropan là datumetin và nhiều chất thuộc nhóm wihanolid bao gồm datumetelin, datumelin, daturilin, daturilinol, withametelin và các glỹcosid của withanolid: daturametelin A, daturametelin B (W. Tang và cộng sự 1992).

Hạt cà độc dược chứa dầu có mùi, vị khó chịu và các hằng số sau: d210,9255; nD28ol,473, chỉ số acid 46,3 chỉ số xà phòng 189, chỉ số iod 84,65, chỉ số acetyl 42,28. Thành phần chất béo gồm acid béo thể rắn 6,18%, acid oleic 60,8%, acid a - linoleic 23,55%, acid p - linoleic 2,92%, acìd caproic 1,7%, chất không xà phòng hóa được 2,9%.

Trong hạt còn có alantoin và lá có vitamin c (222mg/100g).

Datura innoxìa. Đây là nguồn nguyên liệu quan trọng để chiết xuất scopolamin với tỷ lệ trong lá là 0,16 - 0,25%, cành mang lá 0,23 - 0,36%, cành 0,11 - 0,12%, hạt 0,38 - 0,45%, rễ 0,15 - 0,48%. Scopolamin chiếm 48 - 72% alcaloid toàn phần của hạt, 24 - 28% của phần mang lá, 68 - 75% của lá, 16% của rễ. Loài D.innoxia ở châu Mỹ la tinh chứa scopolamin ở cành là 0,3%, quả 0,77%, hạt 0,44%. Ngoài ra, trong cây còn có tigloidin, atropin, tropin, pseudo - tropin và các base khác như 7 - hydroxv-32-6p digiloyl oxytropan (-) 3a 6p digiloyl oxytropan, hyoscin và meteloidin.

Scopolamin được chiết xuất dễ dàng từ bột nguyên liệu bằng cách ngâm kiệt với nước acid loãng sau khi dã ngâm vào dung môi gồm 48% alcol isopropilic, 48% nước và 4% acid acetic băng. Dịch chiết được cô đặc trong chân không, kiềm hóa với NH4OH rồi đun hồi lưu với alcol propylic alcaloid được chiết ra bằng ether và chuyển sang dạng muối hydrobromid. Scopolamin (L - hyoscin) là chất lỏng sánh tan trong hầu hết các dung môi hữu cơ, nhưng khó tan trong ether dầu và benzen. Dạng muối hydrobromid rất đễ tan trong nước và được dùng làm thuốc. Phần nhựa màu sẫm thu được từ dịch chiết nước sau khi đã tách riêng phần alcaloid, chứa các đường khử, các muối oxalat, nitrat.

Datura stramonium. Nguồn nguyên liệu có tác dụng tương tự bellạdon.

Các bộ phận của cây đều chứa alcaloid từ 0,3 đến 0,5%, chủ yêu là hyoscyamin C17H2303N, với điểm chảv là 108°5, aD - 22° (50% alcol). Ngoài ra, còn có một ít atropin. Lá và cành phía trên ngọn chứa nhiều alcaloiđ hơn ở phần dưới gốc. Hàm lượng alcaloid toàn phần giảm một cách đáng kể nếu nguyên liệu được thu hái sau khi mưa. Dược liệu thu hái vào buổi sáng chứa nhiều alcaloid hơn thu hái vào buổi chiều. Dược liệu phơi trong râm có hàm lượng alcaloid cao hơn phơi dưới nắng mặt trời. Lá để khô trong cây có hàm lượng alcaloid cao hơn lá cắt rời khỏi cây. Trong quá trình làm khô như vậy, kèm theo sự tâng hàm lượng alcaloid trong lá, hàm lượng trong rẽ và thân sẽ giảm di. Do đó, người ta cho rằng alcaloid đã chuvển vị trí. Nếu dem nguyên liệu diệt men ở 100° trong 15 phút trước khi sấy khô, hàm lượng alcaloid sẽ cao hơn nguyên liệu không xử lý. Trong quá trình trổng trọt, nếu đem ngắt bỏ nụ hoa, lượng lá sẽ tăng lên và alcaloid toàn phần cũng tăng.

Datura stramonium có thể dùng làm nguyên liệu để chiết xuất atropin (CnH2303N, điểm chảy 128°C), bằng cách racemic hóa

1. hyoscyamin với dung dịch kiềm loãng đun nóng trong dung môi cloroform. Atropin không có hoạt lính quang học, tuy nhiên nó có thể hơi tả tuyền do sự có mặt của một ít L.hyoscyamin. atropin sulfat, methobonmat và methonitrat đều là những sản phẩm dược đùng làm thuốc.

Ngoài alcaloid ra, người ta còn tìm thấy acid clorogenic và tinh dầu màu sẫm. Trong một loài Datura stramonium mọc ở Trung Quốc, người ta tìm thấy chất datugen C13H2o02 điểm chảy 295°c và datugenin, C16H2205 điểm chảy 265°c.

Hàm lượng alcaloid và các chất saponin, tanin, flavonoid, coumarin của D.stramonium trồng ở Hà Nội được ghi ở bảng trên.

Hạt chứa 16 - 17% đầu béo vói tỷ trọng 0,9181, n25 1,4735, chỉ số aciđ 5,6, chỉ số acetvl 25,6, chỉ số xà phòng 187,1, chỉ số iod 122,6, acid béo toàn phần 87,7%, acid thể rắn 13,1%, phần không xà phòng hóa 2,6%. Thành phần các acid béo gồm các acid linoleic, palmatic,stearic và lignoceric. Trong phần không xà phòng hóa có chứa sitosterol.

Tác dụng dược lý

Tác dụng dược lý của cà độc được do các alcaloid tồn tại trong cây quyết định, chủ yếu là scopolamin, hyoscyamin, atropin. Chúng đều là những thuốc liệt thần kinh đối giao cảm (parasympatholytic). Atropin là hợp chất của d và l.hyoscyamin, trong đó chỉ có 1, hyoscyamin là có tác dụng sinh học, do dó liều dùng của atropin phải gấp đôi liều dùng của l.hyoscyamin.

Về tác dụng ngoại vi, những chất trôn đều phong bế thụ thể của acetylcholin, chống co thắt cơ trơn dường tiêu hoá, tiết niệu, hô hấp. Đối với các tuyến tiết, chúng ức chế sự phân tiết tuyến nước bọt, tuvến mồ hôi gây khô miệng khô da; đối với dạ dày, ức chế sự co bóp và phân tiết dịch vị; đối với ruột, làm giảm nhu động và trương lực. Ngoài ra các hoạt chất trên còn ức chế sự phân tiết các tuyến dường hô hấp.

Đối với mắt, atropin làm giãn đồng tử, gây tăng nhãn áp. Đối với tim nó ức chế sự kiểm soát tim của thần kinh phế vị, gây tăng nhịp tim. về phương diện này, scopolamin có tác dụng vếu hơn. Trên chó gây nhồi máu cơ tim thực nghiệm bằng phương pháp thắt động mạch vành trái trước, atropin dùng phối hợp với scopolamin tiêm tĩnh mạch có tác dạng bảo vộ tim, làm giảm diện tích vùng cơ tim thiếu máu và những biến đổi bệnh lý trên điện tim đổ như độ chếch lên của đoạn sr và sóng Q. Trên chuột cống trắng gây sốc bằng phương pháp chảy máu, scopolamin hoặc atropin có tác dụng chống co thắt các mao quản, cải thiện vi tuần hoàn và sự tưới máu cho cơ quan trong cơ thể, nên có ích trong điều trị sốc.

Về tác dụng đối với hệ thần kinh trung ương, atropin có tác dụng kích thích đặc biệt đối với vùng vận động ở não, dùng với liều lớn gày bồn chồn lo âu, hoang tưởng, ảo giác; thân nhiệt tăng cao, hô hấp tăng. Khác với atropin, scopolamin có tác dụng ức chế thần kinh trung ương rõ rệt; vói liều thường dùng làm cho bệnh nhàn có cảm giác buồn ngủ mệt mỏi. Bằng phương pháp điện sinh lý dã chứng minh rằng cơ chế tác dụng an thần của scopolamin là do ức chế vỏ đại não và hệ thống kích hoạt của cấu tạo lưới trong hệ thần kinh trung ương.

Gần đây người ta thử nghiệm dùng scopolamin làm thuốc gây mê. Trên chuột cống trắng gây mê bằng cách tiêm scopolamin vào não thất, thấy hàm lượng của serotonin và acid 5 - hydroxyindolacetic trong não chuột tăng.

Độc tính:

Cà độc dược và những chế phẩm từ cà độc dược đều rất độc, khi sử dụng phải đúng liều lượng quy định để tránh ngộ độc.

LD50 của atropin bằng dường uống trên chuột cống trắng là 622mg/kg và trên chuột nhắt trắng là 400mg/kg.

Scopolamin trên chuột nhắt trắng có LD50 bằng đường tiêm tĩnh mạch là 163 mg/kg.

Alcaloid toàn phần của cà độc dược trên chó ihí nghiệm bằng đường tiêm tĩnh mạch có liều gây chết tối thiểu là 80mg/kg.

Một số thỏ không bị ngộ độc bởi cà độc dược vì trong cơ thể chúng có men phá hủy atropin, còn con người lại nhậy cảm với cà độc được; atropin với liều 0, 01 - 0,05g có thổ gây tử vong.

Các bộ phận của cà độc dược đều có thổ gây  ngộ độc nếu dùng quá liều với các triệu chứng như mặt ửng đỏ, miệng khô, khát, mắt mờ sợ ánh sáng, hoang tưởng, ảo giác, giãn đồng tử, thân nhiệt tăng cao, mê sảng, co giật, cuối cùng trụy tim mạch và hô hấp. Để chẩn đoán ngộ độc, ngoài việc căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và bệnh sử còn có thể dùng nghiệm pháp giãn đổng tử mèo bằng cách lấy một giọt nước tiểu bệnh nhân giỏ vào mắt mèo, nếu dồng tử giãn to tức khắc chứng tỏ ngộ độc là do cà độc dược. Phương pháp cấp cứu ngộ dộc như sau: nếu mới dùng cà độc dược bằng đường uổng thì gây nôn và rửa dạ dày, nếu thuốc dã được hấp thu vào máu thì dùng thuốc đổi kháng như pilocarpin. Trong dân gian, còn có phương pháp cấp cứu bằng phòng phong 6g, quế chi 6g hoặc cam thảo tươi 50g sắc nước uống, cũng có thể dùng cam thảo tươi với hạt đậu xanh sống mỗi thứ 30g, giã nát, hãm với nưóc uống. Ngoài ra, còn dùng phương pháp đắp lạnh hoặc tắm bằng nước lạnh cho đến khi da hết đỏ ửng.

Tính vị, công năng

Cà độc dược có vị cay, tính ôn, có dộc, có tác dụng bình suyển, khư phong, chỉ thống.

Công dụng

Trong y học hiện đại, các chế phẩm từ cà độc dược được sử dụng làm thuốc chống co thắt cơ trơn, chữa hen suyễn, viêm phế quản, viêm loét dạ dày, dùng làm thuốc tiền mê, chữa nhiễm độc các chất ức chế men cholinesteraza (như khí độc sarin), chữa một số truồng hợp bệnh parkinson, nhồi máu cơ tim cấp tính và chậm nhịp tim. Trong nhãn khoa, atropin là thuốc giãn đổng tử trong một số xét nghiệm mắt và thuốc nhỏ mắt chữa viêm màng bổ đào. Scopolamin được dùng điều trị co thắt dạ dày - ruột và phòng ngừa say tàu xe.

Trong y học cổ truyền, ngoài công dụng bình suyễn, cà độc dược còn được dùng làm thuốc gây mê, chữa đau cơ, da tê dại, hàn thấp, cước khí. Dùng ngoài, dấp tại chỗ chữa mụn nhọt, giảm dau nhức. Theo sử sách Trung Quốc tương truyền rằng vào khoảng 200 năm sau công nguyên, danh y Hoa Đà đã dùng "Ma phất thang" (có cà độc dược) để làm thuốc gây mê tiến hành mổ xẻ, nạo xương. Những năm gần dây Trung Quốc đã thử nghiệm dùng cà độc dược phối hợp với các dược liệu khác như sinh thảo ô, xuyên khung, đương quy tạo thành bài thuốc gây mê đông dược, kết quả dạt 90% nhưng đồng thời còn tồn tại một số vấn đề như cường độ gây mê chưa đủ sâu, thời gian bệnh nhân hổi tỉnh sau phẫu thuật kéo đài và thường xuất hiên nhịp tim nhanh.

Ngoài các chế phẩm atropin và scopolamin, cà độc dược còn được dùng dưới dạng bột lá, cao lỏng, rượu thuốc, hoặc hoa và lá thái nhỏ phơi khô đổ hút như thuốc lá.

Bột lá cà độc dược (độc bảng A), liều dùng cho người lớn 0,1 g/lần, 0,2 - 0,3g/24 giờ. Cao lỏng cà độc dược (độc bảng A) 1:1, liều thường dùng cho người lón 0,lg/lần, 0,2 - 0,3g/24 giờ. Rượu thuốc cà độc dược 1:10, liều thường dùng 0. 5./lần; 1 - 2g/24 giờ.

Bài thuốc có cà độc dược

1. Chữa hen suyễn:

Hoa cà độc dược thái sợi phơi khô 0,30g

Lá cà độc dược thái sợi phơi khô 0,60g

Cao khô cà độc dược 0,005g

Cồn cánh kiến trắng 1/5 0,010g

Nitrat kali 0,10g

Cồn thơm vừa đủ cho một điếu thuốc.

Mỗi lần hút từ nửa điếu đến một diếu, khi triệu trứng đã giảm thl ngừng hút. Ngày hút 1 - 2 lần. Nếu thấy triẹu chứng khô miệng phải ngừng hút ngay.

2. Chữa viêm phế quấn mãn tính.

a. Lá cà dộc được phơi khô lOOg, cam thảo 50g chế thành dịch lỏng cà độc dược 25%, mỗi lần uống 4 - 5 ml, ngày 1 lần. Một đợt điều trị kéo đài 10 ngày.

b. Dùng scopolamin tiêm bắp thịt, mỗi lần 0,5 - 1,0mg, cứ cách 5 ngày tiêm một lần; Một đợt điều trị gồm 4 - 5 lần tiêm.

Kiêng kị: Bệnh nhân thiên đầu thống (glaucoma) không được dùng các chế phẩm cà độc dược.

Cà Độc Dược 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC