Vị thuốc vần C

Cà Rốt

10:54 15/05/2017

Tên đồng nghĩa: Daucus carota L. var. sativa Hoffm.

Tên nước ngoài: Carrot (Anh) ; carotte, racine jaune (Pháp).

Họ: Hoa tán (Apiaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống hai năm. Rễ (thường gọi là củ) hình trụ ngắn, màu vàng hoặc vàng đỏ. Lá mọc so le, xẻ lông chim, càng gần phía đầu càng hẹp lại; không có lá kèm, bẹ lá khá phát triển. Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành tán kép có tổng bao gồm nhiều lá bắc xẻ lông chim; mỗi tán đơn có tiểu bao gồm lá bắc nhỏ nguyên hoặc xẻ; nhiều hoa không đều ở vòng ngoài và những hoa lưỡng tính đều ở vòng trong. Ở giữa là một hoa không sinh sản, màu đỏ tía. Hoa có lá đài rất nhỏ, hình tam giác, cánh hoa có mép gập vào trong, số nhị bằng số cánh hoa, bầu hạ 2 ô, mỗi ô chứa một noãn.

Cà rốt  và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Quả bế đôi, thuôn, có cạnh lồi tua tủa những tơ cứng.

Mùa hoa : tháng 4-5.

Phân bố, sinh thái

Chi Daucus L. chỉ có một loài duy nhất là cà rốt. Qua quá trình trồng trọt và chọn lọc người ta đã lạo ra nhiều giống mới và biến chủng. Trong phân loại thực vật, chúng được chia thành 13 phân loài (subspecies), 12 phân loài thuộc về những đại diện mọc hoang dại. Còn lại tất cả các giống cà rốt trồng được xếp vào một phân loài. Có hai giống cà rốt chính trồng phổ biến trên thế giới là:

- Cà rốt cù tía: có nguồn gốc ở vùng núi Himalaya và Hindu - Kush thuộc Afganistan. Từ xa xưa, các bộ lạc ở đây đã thuần hoá, đưa cà rốt củ tía vào trổng. Sau đó cây được phổ biến sang các nưốc xung quanh, như Iran, Ân Độ, Nga, Pakistan. Các giống cà rốt củ tía được nhập vào vùng Địa Trung Hải và Tây Âu vào khoảng thế kỷ XI. đến thê' kỷ XIV - XVII, mới đưa vào Trung Quốc; Nhật Bản và các nước châu Á khác.

- Cà rốt củ màu vàng hay vàng đỏ hiện chưa rõ nguồn gốc, nhưng lại là giống được trồng rộng rãi nhất trên thế giói. Các giống cà rốt đang được trồng ở Việt Nam cũng thuộc nhóm này.

Cà rốt là loại cây ưa sáng, ưa vùng có khí hậu ẩm mát. Nhiêt độ thích hợp cho cây sinh trưởng thường dưới 20°c. Ở Việt Nam, cây chỉ được trồng từ cuối thu đến đầu .xuân. Ở vùng núi cao trỗn 1500m như Sa Pa, Đà Lạt, người ta trồng cà rốt thành nhiều vụ trong năm. Cây ra hoa kết quả nhiều. Hoa thụ phấn nhờ côn trùng. Tỷ lệ nảy mầm của hạt là 70 - 80%.

Trên thế giới, cà rốt là một loại rau xanh quan trọng. Tổng diện tích trồng cà rốt hàng năm là 600.000ha, sản lượng khoảng 13 triệu tấn. Trung Quốc và các nước thuộc Liên Xô cũ cũng trồng nhiều cà rốt nhất.

Cách trồng

Cà rốt được trồng ở cả vùng núi, trung du và đồng bằng, tập trung ở các vùng rau quanh các đô thị. Cây ưa đất cát pha, đất thịt nhẹ, nhiều mùn, đủ ẩm, tiện tưới tiêu, đủ ánh sáng; không chịu úng.

Cà rốt được nhân giống bằng hạt, hệ số nhân giống rất cao, vì cây có nhiều hạt và hạt dễ nảy mầm. Khi cây ra hạt, củ xốp không dùng được.

Thời vụ gieo trồng tốt nhất là vào tháng 9-10. Hiện nay còn có cà rốt trái vụ, gieo sớm hoặc muộn.

Đất trồng cà rốt cần cày bừa kỹ, để ải, vơ sạch cỏ, lén luống cao 25 - 30cm, rộng 0,8 - lm, rạch thành hàng ngang trên mặt luống, cách nhau 15 - 20cm. Phân lót thường bón từ 20 - 27 tấn phân chuồng hoai mục, 200 - 270kg phân lân, 100 - 135kg kali cho 1 ha. Phân được trộn đều với đất theo rạch trước khi gieo hạt.

Hạt cà rốt rất nhỏ. Nên trộn hạt với cát hoặc đất bột để gieo theo rạch. Gieo xong, dùng tay xoa nhẹ cho hạt bám vào đất. Sau đó, đùng rơm, rạ phủ lên và tưới ẩm. Khi hạt mọc, cần dô bỏ rơm rạ kịp thời để cây không bị lướt.

Cà rốt là cây ngắn ngày, cần được chăm sóc chu đáo. Ruộng phải luôn sạch cỏ, đủ ẩm. Khi cây cao 10 - 15cm, bắt đầu tỉa định cây. Có thổ tỉa làm nhiều lần, đảm bảo khoảng cách giũa các cây 7 - 10cm. Cứ 20 ngày, dùng nước phân chuồng, phâii bắc, nuóc giải hoặc đạm pha loãng (2 - 3%) để tưới thúc.

Cà rốt thường bị sâu xám hại lúc cây con, sâu xanh hại lúc trưởng thành. Ở thời kỳ cây con, có thể bị bệnh lở cổ rễ, thối củ. Khi cây bị bệnh, phải ngùng tưới nước và tưới phân và cần xới xáo cho dắt thoáng. Gặp mưa phải tháo nước ngay.

Sau khi gieo trồng từ 100 - 120 ngày, có thể thu hoạch củ, thường vào trước hoặc sau tết âm lịch. Nếu chăm bón tốt, năng suất có thể đạt 8 - 10 tấn củ tươi trên ha. Củ cà rốt thường được đùng tươi. Do nhu cầu của thị trường, người ta còn bảo quản trong kho lạnh. Hoa cà rốt cũng được thu hoạch để cất tinh dầu, thu đến đâu cất ngay đến đó.

Bộ phận dùng

Rễ cà rốt thu hái vào mùa đông, bỏ thân, lá, rỗ con, rửa sạch.

Quả thu hái từ quả chín đã phơi khô.

Lá đôi khi cũng được sử dụng.

Thành phần hóa học

Rễ cà rốt chứa glucid 9 - 10%, protein 1%, chất béo (vết) và hai chất có thể kết tinh được là hydrocarotin và caroten (Dorvault,1995).

Theo tài liệu khác, rễ có a - caroten, p - caroten 60 - 83% trong tổng số carotenoid, y - caroten, e - caroten, lycopen, vitamin Bi 56 - 101 ng/100g, vitamin Bj 50 - 90|ag/ lOOg, vitamin c dưới dạng phức protein - acid ascorbic, vitamin D, dường, dầu béo 0,1 - 0,7%, tinh dầu 0,014% trong đó có camphen, umbeliferon, pectin 16,82 - 18,75% (tính theo dược liệu khô) acid hữu cơ (acid cafeic), tứúều loại enzym (sucrase,amylase, catalase), phytin 5,27%, nhiều loại nguyên tố Fe, Al, Mn, Cu, Zn, As, Cr,I, Br, Cl, u, Li.

Quả chứa tinh dầu và 11 - 13% dầu béo. Tinh dầu có 1 - limonen, cineol, geraniol, citronelol, citral, caryophylen, carotol, daucol, p.cymen, asaron. Dầu béo có acid petrosilinic, acid oleic, daucosterol.

(Trung dược từ hải II và III, 1996,1997; The Wealth of India III, 1952).

Theo tài liệu khác, hạt chứa 0,05 - 7,15% tinh dầu, trong đó có a - pinen tới 13,30%, p - pinen carotol tới 18,29%, daucol, limonen, p - bisabolen, p - elemen, cis - p - bergamoten, y- decalacton, p - farnesen, geraniol, geranyl acetat tới 10,39%, caryophylen oxyd, methvlcugenol, nerolidol, eugenol, trans - asaron, vanilin, asaron, a - terpineol, terpinen - 4 - ol, 7 - decanolacton, coumarin, p - selinen. Các thành phần khác Là acid palmitic, acid butyric (A.Leung và cộng sự 1996).

Hàm lượng geraniol trong tinh dầu có thể đạt 50% (Trung dược chí III, 1993).

Ba fiavon glycosid là apigenin - 4’ - 0 - p - D - glucosid, kaempferol - 3 - 0 - p - glucosid và apigenin -7-0-P-D - galactopyranosyl - (1 - 4) - p - D - manopyranosid đã được phân lập từ hạt cà rốt (Gupta K.R.vàcs 1992).

Shaaban Eman G. (CA. 125 1994 251249z) đã chứng minh lá cà rốt chưa ra hoa chứa 3 - 0 - ß - glucosid và 2 flavonoid aglvcon là apigenin và crvsoeriol.

Nếu bảo quản củ cà rốt (sau khi loại bò lá) ỏ nhiệt độ 0 đến 4°, 5 trong 6 tháng hoặc ở 10° trong 3 tháng thì hầu như thành phần hóa học không thay đổi.

Tác dụng dược lý

Rễ cà rốt có tác dụng giảm đau thổ hiện ở khả năng của cao rỗ khi áp dụng cho chuột nhắt trắng đã làm mất phản ứng quằn quại gây nên khi tiêm phúc mạc cho chuột 0,25ml dung dịch 0,02% phenylquinon.

Tinh dầu hạt cà rốt có tác dụng kháng khuẩn đối với Bacillus subtilis và Salmonella typhimurium ở nồng độ 0,2%, nhưng hoàn toàn không có hoạt tính đối với Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae và Salmonella Stanley.

Liều thấp của nhũ dịch với nước của tinh dầu hạt cà rốt gây hạ huyết áp nhất thời ở chó gây mê mà không ảnh hưởng đến hô hấp, những liều cao hơn gày hạ huyết áp kéo dài, đồng thời cũng gâv ức chế hô hấp. Tinh dầu này gây tác dụng trực tiếp ức chế ttim ếch và tim chó trong thí nghiệm mở ngực, có ttác (lụng giảm dau và ức chế rõ rệt hệ thần kinh trung ương ở chuột cống trắng. Nó có tác dụng chống lại những co giật gây bởi Strychnin ở ếch với mức độ vừa phải, gây giãn ruột cô lập chuột cống trắng và thỏ và tử cung cô lập chuột cống trắng. Nó có tác dụng chống co thắt gây bởi acetvlcholin trên những cơ quan cô lập nêu trên cũng như trên cơ xương cô lập của ếch.

Hạt cà rốt có tác dụng lợi tiểu. Cà rốt làm tăng lượng nước tiểu và giúp thải trừ acid uric. Củ cà rốt bổ sung với lượng lớn vào chế độ ăn có tác dụng tốt trên cân bằng nitơ. Một phân đoạn màu vàng thu được từ cao ether dầu hoả, khi hòa tan trong dầu hạnh nhân và tiêm cho người, thỏ hoặc chó, đã gây giảm đường máu rõ rệt mà không thấy có tác dụng đáng kể khác.

Khi sử dụng rễ cà rốt làm thực phẩm, việc nấu chín làm mất nhiều giá trị dinh dưỡng của cà rốt. Người ta đã nhận xét thấy chỉ 20% tổng lượng caroten được hấp thụ khi ăn cà rốt sống dưới dạng nạo sợi nhỏ. Khi ăn cà rốt nạo sợi to và cà rốt nấu chín, chỉ 5% caroten được hấp thụ. Nguyên nhân hấp thụ kém được quy cho tính thấm kém của thành tế bào đối với caroten, ngay cả sau khi nấu chín, với kết quả là phần lớn caroten vẫn còn bị giữ lại bên Trong các tế bào thực vật.

Cao cồn hạt cà rốt vói những liều 50, 150 và 500mg/kg, dùng riông hoặc kết hợp với ocstradiol propionat cách ngày trong 42 ngày cho chuột cống trắng đã cắt bỏ buồng trứng, thấy có hoạt tính gây dộng dục rõ rệt, nhưng tương đối yếu, dựa trên sự thay đổi vé trọng lượng của cơ quan sinh sản và hình ảnh mô học và hóa sinh của tử cung. Cao hạt cà rốt có tác dụng dự phòng sự phì đại bù chỉnh của buồng trứng còn lại của chuột cống trắng đã bị cắt bỏ một bên buồng trứng, có thể so sánh được với tác dụng của việc cho hàng ngày 10|ig oestraoliol. Trong thử nghiệm về  hoạt tính chống rụng trứng trên thỏ, cao hạt cà rốt chiết với xăng và cồn dã biểu lộ hoạt tính chống rụng trứng tương ứng là 20% và 40%; cao nước không có tác dụng. Năm phân đoạn chiết xuất bằng phương pháp sắc ký từ những cao khác nhau của hạt cà rốt đã được chứng minh có hoạt tính chống sinh sản ở chuột cống tráng cái. Phân đoạn tan trong mcthanol từ cao hạt cà rốt chiết với xàng biểu lộ tác dạng ức chế rõ rệt co bóp tự nhiên và co bóp gây bởi oxvtocin trên tử cung, và ức chế co bóp gây bởi histamin trên hổi tràng cô lập chuột lang. Phân đoạn này làm tăng đáp ứng gây bởi acetylcholin trên cơ xương; không thấy tác dụng có V nghĩa trên huyết áp thỏ, huvết áp và hô hấp chó, và ircn điện tâm đồ của chuột lang.

Đã nghiên cứu tác dụng của cao cồn hạt cà rốt kết hợp với progcsteron và với oestrogen và progesteron trên cả hai lốp của tử cung chuột cống trắng, nhận xét thấy những thay đổi có ý nghĩa trong quần thể dưỡng bào ở cả hai lớp của tử cung. Tinh dầu hạt cà rốt thể hiện tác dụng ức chế khả nàng sinh sản và gây sẩy thai trên chuột nhắt trắng. Đã phân lập bằng sắc ký cột và nhận dạng một trong những hoạt chất là p - bisabolen. Có thể có mối liên quan giữa hoạt tính chống sinh sản của tinh dầu hạt cà rốt và sự giảm mức progesteron huvết tương, và sự ức chế phản ứng màng rụng. Trong thử nghiệm sừng hóa âm đạo trên chuột nhắt trắng cắt bỏ buồng trứng, đã chứng minh phán đoán này không có hoạt tính gây động dục cũng như kháng động dục. Ớ nồng độ cao, phân đoạn này ức chế co bóp của tử cung cô lập chuột cống trắng ở thời kỳ đầu mang thai.

Đã nghiên cứu tác dụng của bột hạt cà rốt trôn kiến trúc sinh dục của buồng trứng và tử cung chuột cống trắng cái với những liều 50,75 và l00mg/kg/ngàv/trong 30 ngày. Những liều 75 và l00mg/kg/ngàv đã làm giảm có ý nghĩa trọng lượng cơ quan sinh dục. Hạt cà rốt không ảnh hưởng đến thể trọng chuột. Kiến trúc tế bào của buồng trứng, và tử cung đều bị ảnh hưởng, dần đến sự thoái hóa toàn bộ. Hạt cà rốt có thể có ích trong việc sử dụng đổ ngừa thai.

Tính vị, công năng

Rễ cà rốt có vị ngọt, cay, mùi hăng, tính bình, vào các kinh: tỳ, vị, đại tràng. Có tác dụng hạ khí, bổ trung, vén ngũ tạng, tăng tiêu hoá, bổ huyết. Hạt cà rốt có vị đắng, ấm, có tác dụng lợi tiểu, sát trùng.

Công dụng

Ngoài công dụng làm thức ăn, rễ cà rốt được dùng cho người gầy còm, thiếu máu, ăn uống chậm tiêu, chữa lỵ mạn tính, trỏ em tiêu chảy, chậm lớn hay răng mọc chậm. Ngày dùng 20 - 50g; có thể đến l00g bột rễ phơi khô. Rễ cà rốt còn dược dùng làm nguyên liệu chế caroten.

Hạt cà rốt được dùng làm thuốc lợi tiểu, điều kinh, sát trùng, trị giun sán, tiêu chảy, ly mạn tính. Ngày dùng 12 - 18g.

Ở Ấn Độ, nước ép rễ cà rốt là nguồn nguyên liệu giàu caroten, dược dùng để nhuộm bơ và những thực phẩm khác. Nưóc sắc cà rốt là một thuốc dân gian để trị giun. Rẽ cà rốt nạo sợi nhỏ được áp dụng làm thuốc kích thích tại chỗ đối với những vết thương lâu lành. Để chữa chứng nhức nửa đầu, dùng lá cà rốt hơ nóng, giã nát và ép lấy nước, rồi trộn với bơ lỏng (hoặc (lầu thực vật) với tỷ lệ 2:1, và nhỏ 2-3 giọt vào lỗ mũi bệnh nhân.Trong y học Trung Quốc, quả cà rốt chín phơi khô được dùng làm thuóc trừ giun. Y học dân gian ở vùng Nam Italia lại dùng nước sắc rỗ cà rốt uống để chữa khản giọng, mất tiếng. Trong liệu pháp thực vật ở một số vùng ở Hy Lạp, người ta dùng cụm hoa cà rốt phơi khô, trộn với mật ong, và chế biến thành một chất nhừ nghiền nhuyễn cho trẻ em uống để làm dịu ho. Nước sắc hạt điều trị bệnh về tiết niệu. Nước sắc lá làm thuốc chống co thắt, và rẻ cà rốt làm thuốcc chống tiêu chảy và trừ giun. Ở Ukraina, cà rốt là nguyên liệu chế thuốc điều trị chứng đau thắt ngực.

Bài thuốc có cà rốt

1. Chữa tiêu chảy trẻ em:

Bột cà rốt khô 50g (hay cà rốt tươi 500g, đun sôi với 1 lít nước thành súp. Trong những ngày đầu, cho trẻ ăn súp cà rốt 100 - I50ml/kg/ngày, chia làm 6 lần. Khi có truyền dịch hoặc cho uống nước thì bớt lượng tương dương súp cà rốt. Những ngày sau cho ăn kèm với sữa mẹ hay với sữa bò với lượng sữa tâng dần và lượng súp cà rốt giảm dần tương ứng.

2. Chữa kém ăn, ít ngủ, mỏi mệt sau khi ốm:

Rễ cà rốt khô (thái miếng, tẩm mật sao) 30g; cây vú bò (thái miếng phơi khô), hoài sơn sao, mỗi vị 24g; mạch môn chẻ đôi bỏ lõi sao, ngưu tất, thổ tam thất, mỗi vị 12g, sắc uống.

Cà Rốt 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC