Vị thuốc vần C

Cà Trái Vàng

10:55 15/05/2017

Tên khác: Cà tàu, p' lờn (K' ho).

Tên nước ngoài: Wild egg plant, yellow berried night shade, bitter - sweet, woody nightshade (Anh).

Họ: Cà (Solanaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống một năm hoặc sống dai, cao 0,7 - lm. Thân hình trụ, đôi khi hóa gỗ ở gốc, phân nhiều cành lòa xoà, có gai cong, nhọn sắc, màu vàng. Cành non phủ lông dày. Lá mọc so le, hình trái xoan rộng, xẻ 5 - 10 thùy nông, hai mặt lá nhất là mặt sau phủ lông mịn và nhiều gai dài và thẳng ở các gân, nhất là gân chính, gốc lá thường tròn và hơi lệch; cuống lá dài 1 - 2cm, cũng có lông và gai.

Cụm hoa mọc thành chùm hoặc xim ở ngoài kẽ lá, có 3 - 5 hoa màu lam, đôi khi thấy hoa mọc đơn độc; đài hình chuông, 5 thùy đồng trưởng; tràng có 5 cánh nhọn; nhị có bao phấn màu vàng.

Quả mọng, hình cầu nhẵn, màu trắng, có vân xanh lục, khi chín màu vàng tươi, đường kính 1,5 - 2,5cm, chứa nhiều hạt nhỏ, dẹt, có cánh.

Mùa hoa : tháng 2 - 4; mùa quả : tháng 5-8.

Cây cà trái vàng có nguồn gốc Nepal được di thực vào Việt Nam năm 1978 và trồng thí nghiệm ở Trại nghiên cứu trồng cây thuốc Tam Đảo (Vĩnh Phúc) và Trại thuốc Văn Điển (ngoại thành Hà Nội) có tên khoa học là Solanum xanthocarpum Schrad. et VVendl.var. geoffrayii Bonati.

Cà trái vàng  và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Phân bố, sinh thái

Cà trái vàng có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ, sau lan ra các vùng khác trên thế giới, bao gồm Australia, Ân Độ, Srilanca, Malaysia, Trung Quốc và Việt Nam.

Ở Việt Nam, cà trái vàng phân bố chủ yếu ở cao nguyên Lang Bian (xung quanh Đà Lạt), các huyện Đức Trọng, Lảm Hà, Bảo Lộc, Đơn Dương, Lạc Dương (tỉnh Lâm Đồng) và ở thị xã Pleiku (Gia Lai). Cây cà trái vàng do Viện Dược Liệu, nhập từ Nepal, nay đã trở nên hoang dại hoá ở khu vực thị trấn Tam Đảo. Ở một số tỉnh miền núi như Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình... cũng thấy một loại cà trái vàng tương tự mọc hoang dại, nhưng chưa ai nghiên cứu cụ thể xem thuộc loài nào.

Cà trái vàng là loại cây ưa sáng và ưa ẩm, thường mọc thành đám thuần loại, trên các bãi đất hoang ở ven đường hay trên các ruộng nương đã bỏ hoang. Cây con mọc từ hạt xuất hiện vào tháng 3-5. Đến mùa thu, sau khi quả chín, lá rụng hàng loạt và tàn lụi- Là cây có nhiều gai nhọn và mọc nhanh, cà trái vàng là đối tượng bị loại bỏ, do ảnh hưởng tới việc canh tác của nhà nông.

Cách trồng

Viện Dược liệu đã nghiên cứu trồng thử 2 giống cà trái vàng ở Hà Nội, Sa Pa và Tam Đảo, một giống có nguồn gốc từ Nepal và một giống lấy từ Đà Lạt. cả hai giống đều sinh trưởng phát triển tốt hơn so với câv mọc hoang dại. Hiện nay, cà trái vàng chỉ mới được trồng ở các cơ sở nghiên cứu, giảng dạy.

Cây được nhân giống khá dễ dàng bằng hạt. Trong điều kiện tự nhiên cũng như gieo trồng, hạt nảy mầm rất tốt vào mùa xuân. Có thể gieo hạt hoặc thu lượm cây con xung quanh gốc cây mẹ để trồng. Nên trồng với khoảng cách 30x30cm. Việc làm cỏ, bón phân, xới xáo chủ yếu tiến hành khi cây còn nhỏ. Cây trưởng thành có nhiều gai, khó chăm sóc. Cà trái vàng mọc khoỏ, ít sâu bệnh.

Bộ phận dùng

Toàn cây.

Quả thu hái lúc chín vàng, phơi khô.

Thành phần hóa học

Cà trái vàng chứa solasonin,solamargin, solasurin, solasodin, galactosid - J3 - sitosterol, methyl cafeat, acid cafeic (Trung dược từ hải, III, 1997).

Trần Hữu Thị (1985) đã chiết tách 2 chất từ quả cà trái vàng nguồn gốc Nepal di thực vào Việt Nam và nhận dạng lá solamargin và solasodin và phát hiện sự có mặt của p - solamargin và dioscin. Hàm lượng solasodin trong quả là 1,6 - 2,1%. Lá, thân, cành, rễ chỉ có vết không đáng kể solasodin.

Theo Nguyễn Khắc Quỳnh Cứ, quả chứa 1,8% solasodin (tính theo dược liệu khô).

Tác dụng dược lý

Quả cây cà trái vàng thể hiện có tác dụng trong những thí nghiệm trên huyết áp mèo và chó, trên co bóp hổi tràng cô lập chuột lang, tim cô lập chuột lang, trên nuôi cấy tế bào ung thư biểu bì của mũi - hầu người và sarcom 180 ở chuột nhắt trắng. Toàn cây cà trái vàng có tác dụng diệt tinh trùng trên chuột cống trắng. Hỗn hợp glvcoalcaloid của quả cây cà trái vàng trong đó có 45% solamargin, 28% solasonin, một tỷ lệ không dáng kể p.solamargin và dioscin, có các tác dụng dược lý như : Tác dụng ức chế khá mạnh giai đoạn viêm cấp tính, ức chế giai đoạn viêm mạn tính và gây teo tuyến ức mạnh.

Dung dịch glycoalcaloid có tác dụng ức chế sự phát triển 3 loại nấm gây bệnh thường gặp: Trichophyton rubrum, Tricophyton gypseum và Microsporum lanosum. Dung dịch 1% glycoalcaloid có tác dụng ức chế tốt nhất, dạng thuốc mỡ có tác dụng ức chế yếu hơn.

Liều chết 50% của glycoalcaloid trên chuột nhắt trắng (DLS0) là 864mg/kg thể trọng.

Công dụng

Cây cà trái vàng là một trong những cây thuốc được dùng phổ biến ở Nepal. Trong y học dân gian Nepal, rễ được dùng làm thuốc long đờm và chữa ho, hen, cảm sốt, sổ mũi và đau ngực. Nó được giã nát, ngâm với rượu và dùng chữa nôn mửa, bệnh phong, chữa sốt và làm thuốc lợi tiểu. Nước ép của quả dùng chữa viêm đau họng. Thân cây, hoa và quả được đùng làm thuốc đắng gây thèm ăn, gáy trung tiện chữa đầy bụng và chữa bỏng ở chân, phát thành mụn nước và phồng nước. Cây được dùng làm thuốc lợi tiểu chữa phù toàn thân và bệnh lậu, dưới dạng nước sắc.

Lá dùng đắp tại chỗ làm giảm đau. Nước ép lá phối hợp với hạt tiêu đen dùng điều trị thấp khớp. Nụ và hoa chế thành dung dịch với nước muối dùng chữa bệnh chảy nước mắt giàn giụa. Quả cây cà trái vàng là nguồn nguyên liệu để chiết xuất solasodin.

Cà Trái Vàng 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC