Vị thuốc vần C

Cải Củ

10:58 15/05/2017

Tên khác: La bạc, củ cải.

Tên nước ngoài: Garden rađish (Anh); radis rose, petit radis, navet rave, radis rond, chou radis (Pháp). 

Họ: Cải (Brassicaceac).

Mô tả

Cây  nhỏ, sống một năm hay hai năm, cao 15 - 45cm. Rễ phình to thành củ hình trụ dài, hình trứng hay hình cầu; không phân nhánh, màu trắng. Thân rất ngắn chỉ khi ra hoa mới vượt lên. Lá mọc so le, hình bầu dục hay hình mác, phiến lá men theo cuống đến tận gốc; đôi khi xẻ thành những tai ngắn, đầu tròn, mép lá có răng cưa tù hoặc chia thùy không đều, uốn lượn, gân hình mạng nổi rõ ở mặt dưới.

Cụm hoa mọc thành chùm, trên một cán dài phân nhánh, mỗi nhánh mang nhiều hoa màu trắng, đôi khi pha tím nhạt; đài có 4 răng thuôn hẹp; tràng có 4 cánh mỏng; nhị 6, 2 cái ngắn; bầu hình trụ.

Quả cải, thắt từng quãng nom như chuỗi hạt, đầu nhọn dài; hạt nhỏ, nhiều màu vàng nhạt hoặc nâu đen.

Mùa hoa quả: tháng 1-5.

Cải củ và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Raphanus L. gồm một số loài là cây thảo, vài loài được trồng làm rau ăn, trong đó có cải củ.

Hiện nay chưa xác định được cụ thể nguồn gốc của cây. Dự đoán rằng cây bắt nguồn từ vùng Đông Địa Trung Hải và Caspian, vì ở đó vẫn có một số loài cùng chỉ mọc hoang dại như Raphanus raphanistrum L.; R. maritimus Sm, R. - landra Moretti ex DC...

Từ 2000 năm trước công nguyên, các bộ tộc ở vùng Địa Trung Hải đã biết trồng cải củ. Ở Trung Quốc có cải củ từ 500 năm trước công nguyên. Nhật Bản nhập cải củ từ Trung Quốc vào khoảng thế kỷ VII sau công nguyên... Mặc dù vậy, Trung Quốc và Nhật Bản nay đã trở thành trung tâm đa dạng về cải củ của thế giới, chỉ đứng sau vùng nguyên sản của nó ở châu Âu. Người ta đã phân chia cải củ thành 4 nhóm chính: cải củ Trung Quốc được trồng nhiều ở Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và một số nước ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam; cải củ lá chủ yếu ở châu Âu, người ta lấy lá làm thức ăn cho gia súc và phân xanh; cải củ đuôi chuột có nhiều ở Ân Độ và cải củ nhỏ ở vùng ôn đới châu Âu.

Cải củ trồng ở Việt Nam có lẽ cũng được nhập từ Trung Quốc. Hiện nay, có nhiều giống đang được trồng ở khắp các địa phương. Bên cạnh các loại cải củ màu trắng, gần đày một số giống củ màu tím được nhập trồng ở Phó Bảng (Hà Giang) và Đà Lạt (Lâm Đồng) có kết quả tốt. Nhìn chung, tất cả các loại cải củ trồng hiện nay đều có các đặc điểm sinh thái giống nhau. Đó là tính ưa sáng, ưa điều kiện khí hậu ẩm mát. Do đó, người ta thường trồng cải củ vào mùa thu - đông hay mùa xuân. Ở vùng núi cao trên 1500m cải củ được trồng vào vụ xuân - hè.

Cách trồng

Cải củ sinh trưởng, phát triển tốt ở những vùng có khí hậu mát, hoặc trong mùa đông ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Ở những nơi nóng hoặc mùa hè vẫn có thể trồng được nhưng cây không có củ.

Vì là cây có củ nên cải củ được trồng tốt nhất trên đất cát pha, đất thịt nhẹ, nhiều mùn, thoát nước. Cây được nhân giống từ hạt bằng cách gieo thẳng. Ở những nơi có mùa đông quá lạnh như Sa Pa (Lào Cai), thường gieo hạt vào tháng 2-3, thu hoạch củ vào tháng 5 - 6. Ớ đồng bằng và trung du Bắc Bộ thường gieo vào tháng 8-9, thu hoạch vào tháng 11-12. Hạt giống được sản xuất bằng cách : Sau khi thu hoạch, cắt lấy mạt củ (một đoạn dài 4 - 5 cm, gồm gốc củ và chồi búp) đem trồng và chăm sóc cho ra hoa kết hạt. Theo kinh nghiệm, hạt thu trực tiếp trên cây có chất lượng kém, củ nhỏ, năng suất củ không cao. Hạt sản xuất ở đồng bằng không tốt bằng hạt sản xuất ở vùng núi.

Đất trồng cải củ cần dược cày bừa kỹ, bón lót 10 - 15 tấn phân chuồng hoai mục, 100 - 150kg phân lân, 50 - 75 kg phân kali cho mỗi hecta, lên luống cao 25 - 30 cm, rộng 0,8 - lm, rồi đánh rạch ngang mạt luống, cách nhau 20 cm. Phân lót nên bón theo rạch, vừa tập. trung dinh dưỡng vừa làm xốp đất cục bộ cho cây (cải củ chỉ có lông hút ngắn mọc ra từ củ, không thể hút dinh dưỡng từ xa).

Hạt cải củ được gieo theo rạch, có thể phủ rơm, rạ, trấu, tro bếp hoặc không phủ, nhưng cần chú ý phòng trừ kiến tha hạt. Nên trộn hạt với bột basudín trước khi gieo. Nhân dân có kinh nghiệm trộn hạt với dầu hoa cũng cho kết quả tốt. Sau 4 - 5 ngàv, hạt sẽ nảy mầm. Khi cây có 3 - 4 lá thật, tiến hành tỉa định cây, đảm bảo khoảng cách giữa các cây từ 10 - 15 cm.

Ruộng cải củ cần có độ ẩm vừa phải, luôn sạch cỏ và thường xuyên được xới xáo, vun gốc. Ở thời kỳ cây con và khi cây bắt đầu ra củ, cần tưới bổ sung nước giải, đạm pha loãng hoặc nước phân chuồng.

Cải củ thường bị sâu xám, sâu xanh và rệp hại lá. Củ thu vào lúc cây chưa ra ngồng, lá thu lúc còn non. Nếu thu hạt làm thuốc thì để hạt già, cắt lấy phần thân mang quả đem về phơi khô đập lấy hạt. Khi cây ra ngồng, củ trở nên xơ không ăn được.

Bộ phận dùng

Rẻ cải củ thu hái vào mùa đông, loại bỏ thân, lá, rễ, phơi khô.

Hạt chín phơi khô. Có thể sao trước khi dùng.

Lá phơi hay sấy khô.

Thành phần hóa học

Rễ cải củ chứa raphanin, glucose, saccharose. Ngoài ra, còn có acid coumaric, acid cafeic, acid ferulic, acid gentisic, acid hydroxvbenzoic, nhiều loại acid amin khác nhau, 4 - methyl - thio - 30 - lutenyl glucosynolat. (Trung dược từ hải II 1996).

Rễ tươi có vitamin c.

Hạt chứa dầu béo, tinh dầu. Dầu béo có acid erucic, glycerol cynapat. Ngoài ra, hạt còn có raphanin có tác dụng kháng khuẩn, ß - sitosterol, Y - sitosterol, sinapin bisulfat (Trung dược từ hải II, 1996).

Tác dụng dược lý

Củ, lá, hoa và hạt cây cải củ có hoạt tính kháng khuẩn đối với những vi khuẩn gram dương. Trong thử nghiệm về tác dụng lợi niệu trên chuột cống trắng, liều của củ cải khô lg/kg cho chuột uống dưới dạng cao nước có tác dụng làm tăng hiệu suất tiết niệu 164%, trong khi hiệu suất tiết niệu tăng 36% ở nhóm chuột uống placebo, và tăng 286% ở nhóm Uống25mg/kg hydroclorothiazid. Trong thử nghiệm trên chó, nước ép cải củ làm tăng bài niệu và tăng tiết mật. Những chế phẩm từ cây cải củ làm tăng sự dung nạp của cơ thể đối với carbon hydrat.

Tính vị, công năng

Hạt cải củ (la bặc tử) có vị cay ngọt, mùi thơm, tính bình, vào các kinh phế, tỳ, vị. Có tác dụng hạ khí, tiêu đờm, trừ hen suyễn, tiêu thức ăn. Củ cải củ (la bặc căn), có vị ngọt, hơi cay đắng, tính bình, có tác dụng mạnh tỳ vị, lợi tiểu, long đờm, tiêu thức ăn, giải độc.

Công dụng

Hạt cải củ được dùng chữa ăn không tiêu, sốt, ho nhiều đờm, hen suyẽn, ngực bụng đầy trướng, nôn mửa. Ngày uống 10 - 15 g dưới dạng thuốc sắc. Người khí hư không nên dùng.

Củ cải củ hoặc lá cải củ phơi hay sấy khô vói liều hàng ngàv 10 - 15g được dùng dưới dạng thuốc sắc để làm thuốc thông tiểu tiện, chữa phù thũng, củ cải củ còn được dùng chữa nhức đầu và thiên dầu thống (củ cải củ tươi giã, vắt lấy nước cốt, nằm ngửa, nhỏ vào lỗ mũi), và chữa tiêu chảy (luộc ăn hàng ngày).

Trong y học cổ truyền Trung Quốc, nước ép củ cải củ được dùng làm thuốc tăng cường tiêu hoá, làm mạnh dạ dày, lợi mật trong bệnh sỏi mật, long đờm và lợi tiểu. Rượu ngâm hạt và củ cải củ được dùng ngoài chữa nốt tàn nhang. Hạt và củ cải củ dưới dạng thuốc bôi dẻo chữa một số bệnh ngoài da. Liều dùng nước ép củ cải củ uống mỗi lần là 50 - 90g.

Trong y học cổ truyền Ấn Độ, củ cải củ được coi là thuốc làm khỏe khoắn và lọc máu. Những chế phẩm từ củ cải củ có tác dụng tốt đối với những rối loạn chức năng gan và túi mật. Trong liệu pháp đồng căn cù cải được dùng trong những bệnh nhức đầu, đau dây thần kinh, mất ngủ và tiêu chảy mạn tính. Củ cải củ cũng được coi là có ích đối với những bệnh về đường tiết niệu, trĩ và đau dạ dày. Một muối chiết từ củ sấy khô và đốt thành tro trắng được dùng trong rối loạn dạ dày.

Củ cải củ có trong thành phần một chế phẩm thuốc trợ tim gồm: thân rễ gừng; rễ các cây sâm rừng, chè rừng, bạch hoa xà, quả tất bát (Piper longum), quả lựu, láo nhân, dịch ép quả bưởi và một số vị khác. Nước ép lá cải củ tươi dùng dể lợi tiểu và nhuận tràng. Hạt cải củ có tác dụng trợ tiêu hoá, long đờm, lợi tiểu,và gây trung tiện. Nước sắc hạt được uống trong thời kỳ kinh nguyệt trong khoảng 5 ngày để tránh thụ thai.

Trong y học dân gian Ytalia, củ cải củ được dùng chữa ho, giảm đầy hơi và kháng khuẩn, ơ Trung Mỹ, nhân dân dùng củ cải củ làm thuốc lợi tiểu, hạ sốt, làm ra mồ hôi. Trong y học dân gian Indonesia, lá cải củ vò nát vói vôi bột, và bôi vào vết đứt để cầm máu.

Bên cạnh công dụng làm thuốc, cải củ được làm rau ăn, thường nấu chín, nhưng cũng có khi ăn sống. Ở một số nước, cải củ được ưa thích vì có vị cay và được coi là có tác dụng làm ăn ngon miệng.

Bài thuốc có cải củ

1. Chữa ho nhiều đờm, hen suyễn, khó thỏ, tức ngực (Tam tử dưỡng thản thang):

Hạt cải củ 10 g, hạt tía tô 10 g, hạt cải trắng (bạch giới tử) 3g. Các vị sao, tán nhỏ cho vào túi vải, thêm 500ml nưóc, sắc còn 200 ml, chia 3 lần uống trong ngày.

2. Chữa đờm suyễn kéo lén, ngực căng thở gấp:

Hạt cải củ sao, hạt bồ kết đốt tồn tính, 2 vị bằng nhau, tán bột viên với mật ong, uống mỗi làn 4 g, Iigàv uống 2 - 3 lần (Nam dược thần hiệu).

3. Chữa đờm suyễn và ho lâu ngày:

Hạt cải củ sao, hạnh nhân bỏ vỏ sao. Các vị đều bằng nhau, tán nhỏ, làm thành viên bằng hạt cỉồ xanh, mồi lẩn uốtig 3 - 5 viên (Bách gia trân tàng).

4. Chữa hen suyễn:

Hạt cải củ 200 g, sâm dại hành 60 g, gừng già 50g, cam thảo dâv 20 g, trần bì 20 g.

Hạt cải củ đồ chín, phơi hay sấy khô, sâm đại hành thái mỏng phơi khô; các vị khác tán nhỏ, dùng chất nhớt dây tơ xanh (Cassytha filiformis) luvện và làm thành hoàn 0,30 g, sấy khô. Mỗi lẩn uống 4 g, ngàv 2 lần.

5. Chữa phù thũng:

Hạt cải củ 40 g, sắc uống.

6. Chữa ngạt do khói than:

Củ hay lá cây cải củ, giã nhỏ vất lấy nước cốt, đổ vào miệng (Nam dược thần hiệu).

7. Chữa bỏng:

Củ cải củ, giã nát dắp vào chỗ bỏng (Nam dược thần hiệu).

Cải Củ 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC