Vị thuốc vần C

Cam Thảo Bắc

02:35 18/05/2017

Tên khác: Diêm cam thảo, sinh cam thảo, phấn cam thảo.

Tên nước ngoài: Liquorice, sweet wood (Anh); bois doux, bois sucré, racine douce, réglisse (Pháp).

Họ: Đậu (Fabaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống lâu năm, cao 0,3 - lm. Rễ dài có màu vàng nhạt. Thân có lỏng mềm, ngắn. Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, gồm 9 -17 lá chét hình trứng, mép nguyên.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành bông, hoa màu tím nhạt; tràng hoa hình cánh bướm.

Quả đậu, cong hình lưỡi liềm, dài 3 - 4cm, rộng 6 - 8mm, màu nâu đen, có lông đày, chứa 2 - 8 hạt nhỏ, dẹt, màu nâu bóng.

Mùa hoa: tháng 6-7; mùa quả: tháng 8-9.

Loài cam thảo Âu (Gìycyrrhiia gỉơbra L.) cũng được dùng với công dụng tương tự. Khác với cam thảo bắc ở chỗ lá chét thuôn dài, hoa màu lơ nhạt, quả rất dẹt, thẳng hoặc hơi cong, dài 2 - 3 cm, rộng 3 - 4mm, nhẵn bóng hoặc có lông ngắn, số hạt ít hơn.

Loài này còn có các thứ Glycyrrhiza glabra L. var. glandulifera Waldst. et Kit. (mọc hoang ở Trung và Đông Âu),G. glabra L. var. typica Reg. et Herd, (mọc hoang ở Bồ Đào Nha) và G. glabra L. var. vỉolacea Boissier (mọc hoang ở Iran). Một loài nữa chỉ phổ biến ở Liên Xô trước đây là Glycyrrhiza korshinsky Grig.

Từ nhiều năm nay, qua khảo sát tìm kiếm ở những vùng rừng núi, ta đã phát hiện cây thổ cam thảo ở Cao Bằng với rễ màu vàng đất, vị ngọt nhạt và cây cam thảo Đá Bia của Phú Yên (Telosma procumbens Merr.) để dùng thay cam thảo bắc.

Còn cây cam thảo - Sóng Rắn (Albizzia myriophylla Benth.) ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ mà vỏ rễ và vỏ thân cũng có vị ngọt, hơi lợm giọng, lại chứa chất độc. Chú ý tránh nhầm lẫn.

Cam thảo bắc và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Glycyrrhiza L. trên thế giới có khoảng 12 loài, phân bố ở vùng ôn đới ấm hoặc á nhiệt đới thuộc châu Á, châu Âu và bắc châu Phi. Tuy nhiên, nơi phân bố tập trung của nhiều loài lại là vùng Trung Á, bao gồm Iran, Azecbaizan, Cazaxtan, An Độ, Nga, Trung Quốc và Mông Cổ.

Cam thảo bắc là cây ưa sáng, chịu được khô hạn và điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Tại vùng Trung Á, ban ngày có thể nóng trên 40°c nhưng ban đêm hoặc về mùa đông nhiệt độ xuống dưới 0°c, nhưng cây vẫn sinh trưởng phát triển bình thường. Cây sống được trên nhiều loại đất, từ các loại đất nhiều chất vôi, đất cát khô cằn của vùng sa mạc cho đến loại đất bùn nhão trong các đầm hồ bị cạn nước. Do sống trong điều kiện khô cằn, nên bộ rễ của cam thảo bắc rất phát triển. Hầu hết các cây lâu năm, rễ đều dài trên lm. Cam thảo bắc thường mọc lẫn với các loại cây bụi khác, trên các bờ đất dọc bờ sông, bãi giữa sông hoặc trên các sa van cây bụi ở vùng Trung Á. Đôi khi thấy cây mọc lẫn trong kiểu rừng lá rộng ôn đới. Độ cao phân bố từ 200 đến 3000m. Ở một số vùng thuộc Liên Xô cũ, ngưòi ta đã ghi nhận cam thảo bắc mọc gần như thuần loại hàng trăm héc ta, bao gồm cả hai loài G.glabra L. và G.uralensis Fisch. Nếu khai thác đến độ sâu 0,5 - 0,7m, có thể thu được 3 - 12,5 tấn rỗ khô/ha đối với loài G.glabra L. và 2 - 8,5 tấn rỗ khô/ha đối với loài G. uralensis Fisch. Riêng loài G. korshinski Grig. thu được ít hơn. Tổng trữ lượng các loài cam thảo bắc ở Liên Xô cũ có tới trên 330 ngàn tấn/năm.

Hàng năm, cam thảo bắc bắt đầu mọc chồi và sinh trưởng mạnh từ mùa xuân đến đầu mùa thu. Cây ra hoa quả nhiều, nhưng tỷ lệ mọc mầm của hạt trong tự nhiên không cao. Cam thảo bắc có khả năng tái sinh chồi rất mạnh. Phần trên mặt đất bị chặt hoặc đốt cháy nhiều lần, gốc còn lại vẫn tái sinh được. Thậm chí, khi khai thác còn sót lại những đoạn rễ nhỏ, sau vẫn có thể mọc lén những cây chồi mới. Cam thảo bắc là một loại cây bụi điển hình, từ một cây nhỏ ban đầu, sau vài năm đã trở thành một bụi cây lớn.

Cách trồng

Cam thảo bắc được nhập vào nước ta từ Trung Quốc và Liên Xô trưóc đây vào những năm 1958 - 1960 và trồng thử ở các cơ sở nghiên cứu của Viện Dược liệu (Văn Điển, Tam Đảo, Sa Pa và Hải Dương). Cả hai cách nhân giống hữu tính và vô tính đã được thử nghiệm. Luống phải làm rất cao (0,7 - lm) bằng cách xẻ rãnh sâu để tạo ra mạch nước ngầm thấp. Cây sinh trưởng tốt từ mùa xuân đến mùa thu, mùa đông thì rụng lá, đến mùa xuân năm sau lại tái sinh. Nhưng cây trồng từ hạt sau 3 năm vãn chưa ra hoa, cây trồng bằng thân ngầm tuy có ra hoa, nhưng hầu như không kết hạt. Ở Văn Điển cây có cho hạt nhưng hạt gieo không nảy mầm. Cho đến nay, cam thảo bắc vẫn chưa trồng thành công ở nước ta. Cách trồng cam thảo bắc theo kinh nghiệm của nước ngoài như sau.

1. Về nhân giống

a. Nhân giống bằng hạt. Có tài liệu nêu cây trồng ít ra hoa kết hạt, hạt thường được thu từ cây mọc hoang. Điều này gây nhiều khó khăn cho sản xuất, nhất là đối với những vùng xa nơi có cây hoang dại. Hạt cam thảo rất dễ bị mọt, rất mẫn cảm với các chất kiềm, mặn, dầu mỡ, và nhiệt: Vì vậy, hạt sau khi thu về cần phải bảo quản cẩn thận. Hạt nảy mầm tự nhiên ở nhiêt độ 15°c nhưng tỉ lệ nảy mầm rất thấp. Xử lý hạt bằng tia X ở liều 100 - 500 rad làm tăng tỷ lệ nảy mầm lên đến 60%, tăng năng suất rễ khô lên gấp hơn 2 lần và tăng hàm lượng acid glycyrrhicic lên tới 9%.

Ở Trung Quốc, hạt được gieo vào tháng 4 hàng năm. Gieo theo rạch cách nhau 17cm. Mỗi hecta cần gieo 300 đến 600 kg hạt. Khi cây có 7 lá thật, tỉa định cây lần cuối, giữ khoảng cách giữa các cây là 13cm.

b. Nhân giống vô tính. Cam thảo bắc còn có thể nhân giống bằng rễ, thân ngầm (rễ chính) hoặc cành giâm. Đối với cành giâm, tốt nhất là dùng những đoạn có đưòng kính 1 - l,5cm, dài 10 - 15cm, chứa ít nhất một đốt thân. Kích thước to hoặc nhỏ hơn đều ảnh hưởng không tốt tới năng suất cây trồng. Rễ hoặc thân ngầm chứa mắt ngủ, có khả năng tái sinh mạnh hơn. Rễ, thân ngầm hoặc cành giâm có thể trồng thẳng ra ruộng hoặc ươm trong vườn ươm. Phương pháp sau- thường đạt tỷ lệ mọc cao hơn, xấp xỉ 100%.

2. Về đất đai.

Ở nơi nguyên sản, cam thảo bắc mọc hoang trên đất khô cằn, nhiều calci, pha cát hoặc cát vàng. Trồng trên đất đen, kiêm, ẩm ướt cây sinh trưởng yếu, chất lượng kém. Trên loại đất này, cây nhân giống vô tính có tỷ lệ sống cao hơn cày gieo từ hạt. Ở  Trung Quốc còn có kinh nghiệm đào hố sâu trên nền đất cứng, sau đó dùng đất trộn với phân, rác lấp lại rồi trồng. Cách trồng này đỡ tốn công thu hoạch. Ở Môndova có cách trồng theo ụ cũng cho kết quả khá.

3. Về phân bón.

Các tài liệu của Trung Quốc chưa thấy nói tới phân bón cho cam thảo bắc. Ở Mônđôva, cây cam thảo bắc 3 năm tuổi được bón lót và thúc hàng năm bằng NPK đạt năng suất 43,9 tấn/ha so với 35,0 tấn/ha rẽ tươi nếu không bón.

4. Về sâu bệnh.

Ở Trung Quốc, cam thảo bắc thường bị nhện đỏ, dế, nhậy, ốc sên phá hoại.

Bộ phận dùng

Rễ cam thảo bắc phơi khô hoặc sấy khô. Dược điển Việt Nam I, tập 2 công nhận 2 loài Glycyrrhiza uralensìs và G. glabra. Dược điển Trung Quốc 1997 (bản tiêng Anh) công nhận 3 loài G. uralensis, G. inílata và G. glabra.

Có 2 dạng dùng:

- Cam thảo sống

- Cam thảo chích: sau khi sấy khô, đem tẩm mật (cứ lkg cam thảo phiến, dùng 200g mật, thêm 200g nước sôi), rồi sao vàng thơm.

Thành phần hóa học

- Glycyrrhiza glabra L. Chất vô cơ 4 - ỗ% carbohydrat (glucose và saccharose) 3 - 5%, manitol, tinh bột 25 - 30%, lipid 0,5 - 1%, asparagin 2 - 4%, nhựa 5%. Có chủng loại có chất đắng glycyramarin, coumarin, umbeliíeron, herniarin, acid ferulic, acid hydroxycinamic.

Glycyrhizin (còn gọi là acid glycyrhizic) là bột tinh thể trắng, ít tan trong nước lạnh, tan trong nước nóng, nếu để nguội sẽ tạo thành gel, tan trong cồn loãng, không tan trong ether, cloroform. Nếu cho vào nưóc, lắc thì tạo bọt. Độ ngọt gấp 60 lần saccharose, nhưng nếu phối hợp với mía, độ ngọt lại tăng lên và có thể gấp 100 lần. Glycyrhizin gồm 2 phân tử acid glucuronic và một phân tử acid glycyrhetic (acid glycyrctinic). Acid glycyrhetic có nhiều đồng phân và là acid 18p - glycyrhetic. Ở trong cây, glycyrhizin tồn tại ở dạng muối Ca và Mg.

Trên thị trường, glycyrhizin thương phẩm là amoni glycyrhizat. Đó là những vảy đen, bóng, tan trong nước, vị ngọt. Hàm lượng glycyrhizin là 6 - 12% (dược liệu khô).

Các chất khác là acid desoxyglycyrhetic I, acid - đesoxyglycyrhetic II, acid 18a - hyđroxyglycyrhetic, acid liquiritic, glycyrhetol, glabrolid, deoxyglabrolid, isoglabrolid.

Các hợp chất flavonoid (1%): Liquiritin trong đó R có thể là glucose hoặc glucose - rhamnose, isoliquiritin, trong đó R có thể là glucose hoặc glucose - rhamnose, liquiritigenin, isoliquiritigenin, licoflavon A, licochalcon A, licochalcon B, quercetin - 3 - glucobiosid, saponaretin, genkwanin, galbranin, 5, 7 - dioxy - 8 (3,3' - dimethylalyl) - flavanon, pinocembrin, prunetin.

3. Các hợp chất oestrogen có nhân sterol với hàm lượng thấp.

Phân đoạn không xà phàng hóa của dịch chiết cồn có tác dụng oestrogen. Dịch chiết dầu hoả có chứa chất có tác dụng gây động dục ở chuột cái đã thiến, tác dụng như là với foliculin. Ngoài ra, còn có ß - sitosterol, stigmasterol.

- Glycyrrhiza uralensis Fisch.

Rễ chứa carbohydrat 4,7 - 10,97%, tinh bột 4,17 - 5,92%; glycyrizin 5,49 - 10,04%, acid 24 - hydroxy glycyretic, acid 3ß - hydroxyolean - 11,13 (18) dien - 30 - oic, acid 3ß - hydroxyolean - 9 (11), 12 (13) dien - 30 oic, flavonoid có khoảng 20 chất trong đó những chất chính là liquiritin, liquiritigenin, isoliquiritin, isoliquiritigenin, neoliquiritin, (dl) - liquiritigenin - 7 - ß - D - glucopyranosid), neo- isoỊiquiritin (trans - isoliquiritigenin - 4 - ß - D - glucopyranosyl - 2 - ß - D - apio - d (hay 1) - furanosid).

- G.inflata có glycyrizin và acid glycyrhetic.

Tác dụng dược lý

1. Tác dụng gây trấn tĩnh, ức chế thần kinh trung ương, giảm vận động tự nhiên, hạ thể nhiệt, giảm hô hấp.

2. Tác dụng giảm ho.

3. Tác dụng giải co thắt cơ trơn.

4. Chữa loét đường tiêu hoá, ức chế tác dụng gây tăng tiết dịch vị của histamin.

5. Bảo vệ gan trong viêm gan mạn tính và tăng bài tiết mật.

6. Chống viêm gan và chống dị ứng.

7. Tác dụng oestrogen.

8. Chữa bệnh addison vì trong cam thảo có acid glycyrhetic cấu tạo gần như cortison nên có tác dụng trên sự chuyển hóa các chất điện giải, giữ natri và clorid trong cơ thể, giúp sự bài tiết kali.

9. Tác dụng giải độc, chứng minh Na glycyrhizat có hiệu lực chống lại tác dụng các chất gây độc trên tim, đồng thời kích thích co bóp tim giống adrenalin. Na và K glycyrhizat có tác dụng giải độc mạnh đối với độc tố của bạch hầu, chất độc của cá, lợn, nọc rắn, đồng thời có tác dụng bảo vệ chống choáng. Glycyrrhizin có khả năng giải độc đối với strychnin, độc tố uốn ván, cocain hydroclorid và cloral hydrat.

10. Ngoài ra, cam thảo bắc còn có tác dụng lợi tiểu, chữa táo bón, chữa một số bệnh về da. Dùng thời gian kéo dài có thể gây phù.

Một đơn thuốc gồm cam thảo bắc 20%, hồng hoa 40% và qua lâu 40% có tác dụng bảo vệ chống thoái hóa cơ tim thực nghiệm gây nên do tiêm adrenalin và theophyllin cho thỏ. Cam thảo bắc có khả năng giải mẫn cảm trong thí nghiệm nuôi cấy tế bào lympho. Việc phối hợp liều nhỏ cimetidin và cam thảo bắc đã loại trừ glycyrrhizin, thí nghiệm trên tổn thương niêm mạc dạ dày, đã làm giảm độc tính của cimetidin và có tác dụng tốt điều trị loét dạ dày, tá tràng. Acid glycyrrhizic, hợp chất triterpenic của rễ cam thảo bắc có tác dụng ức chế sự phát triển của nhiều vi khuẩn trong nuôi cấy và làm mất hoạt tính của vi khuẩn herpes đơn thuần một cách không hồi phục. Khi nghiên cứu so sánh tác dụng chống viêm của các đồng phân lập thể của acid glycyrrhetinic người ta thấy đồng phân alpha có tác dụng mạnh hơn đồng phân beta. Người ta cũng nghiên cứu mối liên quan giữa cấu trúc hóa học và hoạt tính chống độc đối với gan của glycyrrhizin và những chất tương tự.

Tính vị, công năng

Rễ cam thảo bắc có vị ngọt tính bình. Để sống (đồ mềm, sấy khô) có tác dụng giải độc, tả hoả; tẩm mật sao vàng (chích cam thảo), lại có tác dụng ôn trung, nhuận phế, điều hòa các vị thuốc.

Công dụng

Cam thảo sống được dùng chữa cảm, ho mất tiếng, viêm họng, mụn nhọt, đau dạ dày, ỉa chảy, ngộ độc. Cam thảo chích, có tác dụng bổ, chữa tỳ vị hư nhược, ỉa lỏng, thân thể mệt mỏi, kém ăn. Ngày dùng 4 - 20g, dưới dạng bột, thuốc hãm, nước sắc và cao mềm. Ngày nay, do kết quả nghiên cứu khoa học, cam thảo bắc còn có 2 công dụng:

- Chữa bệnh loét dạ dày và ruột, tác dụng giảm loét, giảm co thắt cơ, giảm tiết acid hydrocloric. Ngày uống 3 - 5g, uống liền 7-14 ngày, sau đó nghỉ vài ngày để tránh phù nề.

- Chữa bệnh Addison, mỗi ngày uống 10 - 30ml cao lỏng cam thảo bắc, uống liền một tháng hay hơn. Hiện tượng phù nhẹ do thuốc sẽ mất đi sau khi ngừng thuốc.

Cam thảo bắc dùng phối hợp vói cortison có thể làm giảm tác dụng của cortison. Cam thảo bắc làm cho thuốc ngọt dễ uống và thường có trong thành phần các thuốc viên, thuốc phiến, kẹo ngậm, sừo chữa ho. Gần đây, có tác giả cho rằng glycyưhizin không phải là hoạt chất nên chế cao cam thảo đã loại bỏ chất này.

Theo tài liệu nước ngoài, trong y học Trung Quốc, cam thảo bắc dùng phối hợp vói một số dược liệu khác làm thuốc long đờm chữa ho gà, thuốc để bao và bảo vệ niêm mạc dạ dày, thuốc chữa lao phổi và viêm phế quản, thuốc giải độc đối vói ngộ độc thịt và nấm, thuốc có tác dụng làm trẻ người. Rễ cam thảo bắc còn có tác dụng nhuận tràng nhẹ, được dùng chữa các chứng bệnh xuất tiết và các chứng kích ứng niêm mạc các cơ quan đường tiết niệu. Trong y học dân gian Ân Độ, ngoài những dạng thông thường, cam thảo bắc còn được dùng nhai với lá trầu không, nhào với bơ sữa trâu hoặc mật ong để đắp ngoài chữa vết chém, vết thương.

Bài thuốc có cam thảo

Dùng ở Việt Nam:

1. Chữa hư lao, ho lâu ngày:

Cam thảo nướng 120g tán bột, uống mỗi lần 4g, ngày uống 3-4 lần (Nam dược thần hiệu).

2. Chữa loét dạ dày:

- Thuốc Kavet: cao cam thảo 0,03g, bột cam thảo 0,1 0g, natri bicarbonat 0,15g, magnesi carbonat 0,20g, bismuth nitrat basic 0,05g, bột đại hoàng 0, 02g, tá dược vừa đủ 1 viên. Liều dùng 2-4 viên mỗi lần, ngày uống 2-3 lần.

- Dùng trực tiếp cam thảo: cao cam thảo 2 phần, nước cất một phần, hòa tan. Ngày uống 3 lần,¿nỗi lần 1 thìa cà phê. Không uống liên tục quá 3 tuần lễ.

3. Chữa cảm sốt cao phát điên cuồng, trúng độc, mụn nhọt: (Nhân trung hoàng):

Cam thảo tán nhỏ, cho vào đầy một ống tre đã cạo hết lóp tinh tre bên ngoài. Bịt kín 2 đầu bằng nhựa thông. Đến mùa đông cắm cả ống tre đó vào hố phân người, đến ngày lập xuân, lấy ra rửa sạch bổ ống tre lấy cam thảo, phơi khô tán nhỏ.

Mỗi lần uống 1 - 2g.

4. Chữa mụn nhọt ngộ độc:

Dùng cao mềm cam thảo. Ngày uống 1-2 thìa cà phê.

Dùng ở Trung Quốc

1. Xuất huyết não, dị ứng do cao huyết áp:

Cam thảo 15,5g, lá sen 15,5g, đỗ trọng 12,5g, sinh địa l0g, mạch môn l0g, tầm gửi l0g, bạch thược l0g, nước 800ml. sắc còn 300ml.

Cách dùng: nước sắc chia 3 lần uống trong ngày. Sau 3 ngày diều trị, huyết áp hạ rõ rệt; sau 5-6 ngày bệnh nhân nói khá hơn và cử động được chân tay.

2. Cao huyết áp:

Cam thảo 6,6g, đỗ trọng 33g, hoàng bá l0g, sa nhàn 6,6g. Khi có bệnh tim thận, thêm quế 6,6g, nước 800ml.

Đun sôi trong 15-20 phút, để nguội, lọc.

Cách dùng: nước sắc chia 3 lần uống trong ngày.

3. Lỵ trực khuẩn:

Cam thảo 5g, bạch thược 6g, hoàng liên 4g, hoàng cầm 4g, hạt cau 5g, đương quy 2g, vân mộc hương 2g, quế 2g. Tán bột, trộn kỹ. Cách dùng: uống mỗi lần 10 - 20g bột, ngày 3-6 lần.

4. Loạn thần kinh:

Cam thảo l0g, toan táo nhân 50g, tri mẫu 15g, xuyên khung l0g, phục linh 15g, nước 800ml. sắc còn 300ml.

Cách dùng: ngày uống 2 lần, mỗi lần 150ml nước sắc.

5. Đau dây thần kinh, nhức đầu:

Cam thảo l0g, thanh cao 15g, quế 5g, xuyên khung 7,5g, bạc hà 5g, nước 800ml. sắc còn 300ml.

Cách dùng: Ngày uống 2 lần, mỗi lần 150ml nước sắc.

6. Viêm rễ thần kinh, thống phong, đau dây thần kinh, cứng liên khớp:

Cam thảo 6g, bạch thược 6g, ô đầu lg, nước 600ml. Sắc còn 300ml.Cách dùng: nước sắc chia 2 lần uống trong ngày

7. Thể nhẹ viêm não típ B:

Cam thảo 12g, thạch cao 35g, tri mẫu 18g, đảng sâm 12g, nhân trần 9g, gạo tẻ 15g, sừng tê giác 6g, nước 400ml. Đun sôi 30 phút. Cách dùng: nước sắc chia uống 2 lần trong ngày.

8. Chữa mụn nhọt:

Cam thảo 15g, hoàng kỳ 50g, đương quy 50g, kim ngân l00g, nước 4 lít. sắc còn 600ml. Cách dùng: mỗi lần uống 200ml nước sắc. ngày 2 lần.

9. Viêm phế quản mạn tính, tràn khí phôi:

Cam thảo 6g, ngũ vị tử 10g, quế 8g, phục linh 8g, nước 800ml. sắc trong một giờ. Cách dùng: chia 3 lần uống trong ngày.

10. Chữa tâm phế suy nhược, khó thở, mệt xỉu, mạch nhỏ yếu (tụt huyết áp, truỵ tim mạch) :

Cam thảo 12g, đương quy 10g, sâm Triều Tiên 8g, tán bột uống mỗi lần 4g, ngày uống 3-4 lần, hay sắc uống nếu nguy cấp.

Cam Thảo Bắc 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC