Vị thuốc vần C

Cam Thảo Đất

02:40 18/05/2017

Tên khác: Cam thảo nam, dã cam thảo, thổ cam thảo, dạ kham (Tày), r' gờm, t' rôm lạy (K' Ho).

Tên nước ngoài: Sweet broom weed, tooth brush (Anh); balai doux, herbe à balai, petit balai à graines (Pháp).

Họ: Hoa mõm chó (Scrophulariaceae).

Mô tả

Cây thảo cứng, mọc thẳng, gốc hóa gỗ, phân nhánh nhiều, cao 0,3 - lm. Thân nhẵn, hình trụ, hơi có cạnh. Lá mọc vòng 3 cái một hay mọc đối, có cuống ngắn, hình mác hay bầu dục, hẹp dần ở gốc, đầu tù hoặc hơi nhọn, mép lá nửa phía trên khía răng tù.

Hoa trắng 3-5 cái, mọc ở kẽ lá, cuống hoa dài, mảnh như sợi tóc; lá đài 4, hẹp ngang; tràng có ống ngắn hình bánh xe gồm 4 thùy gần bằng nhau; nhị 4.

Quả nang nhỏ, gần hình cầu, chỉ hơi vượt quá đài tồn tại; hạt rất nhỏ,nhăn nheo.

Mùa hoa quả : tháng 5-7.

Cam thảo đất và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Scoparia L. Có khoảng 10 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới. Việt Nam duy nhất có một loài là cây cam thảo đất.

Cam thảo đất có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ. Hiện nay cây mọc hoang đại ở nhiều nơi, nhất là vùng nhiệt đới Đông Nam Á, Nam Á và Trung Quốc. Ở Việt Nam, cây được coi là loài cỏ dại, phân bố ở hầu hết các địa phương, từ vùng núi đến trung du và đồng bằng. Cây ưa ẩm, ưa sáng và thường mọc thành đám ở các bãi sông, ruộng hoang, nương rẫy và ven đường đi. Từ độ cao l000m trở lên hiếm dần. Cam thảo đất là cây mọc nhanh. Cây mọc từ hạt vào cuối mùa xuân, sinh trưởng mạnh trong mùa hè. Đến mùa thu, sau khi quả già thì tàn lụi.

Nguồn cam thảo đất ở Việt Nam khá phong phú và có thể khai thác ở nhiều địa phương, đáp ứng thỏa mãn nhu cầu làm thuốc hạn chế như hiện nay.

Cách trồng

Cam thảo đất trồng được trên nhiều loại đất, kể cả đất đồi khô hạn. Cây chưa được trồng trên quy mô lớn mà chỉ thấy ở các vườn cây thuốc, vườn thực vật của các bệnh viện, trạm y tế xã, cơ quan nghiên cứu và trường học.

Cam thảo đất được nhân giống bằng hạt. Hạt cam thảo đất nhiều, dễ nảy mầm nên hệ số nhân giống rất cao. Hạt được gieo thẳng hay gieo trong vườn ươm vào tháng 2-3. Cây sinh trưởng phát triển mạnh vào mùa hè và tàn lụi vào mùa đông.

Đất trồng chỉ cần cày bừa, lên thành luống, bón lót một ít phân chuồng, sau đó gieo hạt hoặc trồng cây con, đảm bảo khoảng cách sau khi định cây là 15xl5cm hoặc 20xl5cm. Trong quá trình cây sinh trưởng, thỉnh thoảng cần làm cỏ, xới xáo, tưới nước nếu trời ít mưa. Ở thời kỳ cây con và trưóc lúc ra hoa, nên tưới thúc thêm mỗi lần từ 50 đến 75kg urê cho mỗi hecta.

Cam thảo đất có khả năng chống chịu cao, ít bị sâu bệnh.

Bộ phận dùng

Toàn cây cam thảo đất, thu hái vào xuân, hạ, dùng tươi hay phơi sấy khô. Khi dùng, cắt ngắn.

Thành phần hóa học

Toàn cây cam thảo đất chứa diterpen, ílavonoiđ và acid hữu cơ. Các chất diterpen bao gồm scoparinol, dulanol, scopadulin, acid scoparic A, B, C, acid scopadulcic A, B. Các ílavonoid là hymenoxin, apigenin, luteolin, scutelarein, scutelarin methyl ester, linarin, vitexin, isovitexin, vicenin - II. Các acid hữu cơ bao gồm acid betulinic, acid dulcisic, acid ifflaionic. Ngoài ra, còn có íriedelin, glutinol, dulciol, amellin, p - sitosterol, tanin, alcaloid.

(Trung thảo dược học III, 1997)

Tác dụng dược lý

Cam thảo đất có biểu hiện tác dụng an thần, làm giảm hoạt động tự nhiên của chuột.

Cam thảo đất có tác dụng trên hồi tràng chuột lang cô lập. Amellin là một hợp chất chống đái tháo đường, dùng uống làm giảm đường huyết và các triệu chứng của bệnh đái tháo đường và tăng hồng cầu. Cũng giống insulin, amellin không làm hạ đường huyết dưới mức bình thường, và sự giảm hàm lượng đường trong máu và nước tiểu diễn ra dần dần. Nó làm tăng mức dự trữ chất kiềm bị hạ thấp ở người đái tháo đường và làm giảm hàm lượng sắt trong huyết thanh và các chất tạo ceton trong máu. Nó cũng ngăn cản sự tiêu hao mô và dẫn tới sự tiêu thụ tốt hơn protein trong chế độ ăn, làm giảm mỡ trong mô mỡ và thúc đẩy quá trình lành của các vết thương. Trong cao dược liệu khô, không có hợp chất nào gây hạ đường huyết, những phần chiết tách riêng rẽ đều gây những biến đổi nằm trong những giới hạn biến đổi bình thường của đường huyết.

Tính vị, công năng

Cam thảo đất có vị ngọt đắng, tính mát, có tác dụng bổ tỳ, nhuận phế, thanh nhiệt, giải độc, giải khát.

Công dụng

Ở Việt Nam cũng như ở Quảng Tây - Trung Quốc, cam thảo đất được dùng thay vị cam thảo bắc để chữa sốt, say sắn, giải độc cơ thể. Cây còn dùng chữa ho, viêm họng, ban sởi, kinh nguyệt quá nhiều. Ngày dùng 8 - 12g dược liệu khô, hoặc 20 - 40g cây tươi sắc uống. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác như rau má, cỏ tranh, sài hồ nam, mạn kinh, kim ngân, kinh giới.

Tại đảo Angti, rễ cam thảo đất còn được dùng làm thuốc thu sáp để chữa bệnh lậu. Tại Braxin, nước ép cam thảo đất thụt chữa tiêu chảy và pha uống chữa ho. Nước hãm lá cam thảo đất được dùng chữa sốt, ho, viêm phế quản và làm thuốc súc miệng và ngậm chữa đau răng. Nưóc hãm nóng là thuốc lợi tiểu và nước sắc nguội được dùng chữa sỏi thận và bệnh về thận. Nước sắc rễ, lá và ngọn được dùng chữa tiêu chảy,lỵ, và sốt. Nước hãm hạt cam thảo đất thu được bằng cách ngâm trong nước qua một đêm là nước uống làm mát.

Hoạt chất amellin được dùng điều trị bệnh đái tháo đường, thiếu máu, albumin niệu, ceton niệu, viêm võng mạc, những biến chứng khác kèm theo bệnh đái tháo đưòng và làm các vết thương mau lành.

Cam Thảo Đất 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC