Vị thuốc vần C

Câu Đằng

03:07 18/05/2017

Tên khác: Dây móc câu, dây dang quéo, móc ó, vuốt, co nam kho (Thái), pước cậu, nam lập câu (Tày), ghim tỉu (Dao).

Họ: Cà phê (Rubiaceae).

Trong thực tế thu mua, nhiều loài thuộc chi Urtcaria được sử dụng làm thuốc vói tên câu đằng. Tất cả những loài này đều có đặc điểm chung về mặt hình thái thực vật như sau :

Mô tả

Cây nhỡ, leo. Cành non có thiết diện vuông góc, có rãnh (lọc, khi già cứng có màu xám đen hay nâu đen. Lá có cuống ngắn, mọc đối, có lá kèm; ở kẽ lá có gai nhọn mọc cong xuống, cứ một mấu 2 gai lại xen một mấu 1 gai. Hoa tạ hợp thành hình cầu mọc đơn độc hoặc thành chùm ở kẽ lá và đầu cành; lá đài 5, ống ngắn; cánh hoa 5, ống tràng dài; nhi 5 đính ở họng tràng. Quả nang dài và dẹt chứa nhiều hạt có cánh.

Mùa hoa quả : tháng 3-7.

Nhiều loài câu dằng đã thu thập được và có những đặc điểm riêng khác biệt:

1. Uncaria tonkinensis Havil. (í/, homomala Miq.)- Toàn cây có lông. Lá màu nâu đỏ ở mặt trên, nâu nhạt ở mặt dưới. Gai dài 2cm. Cụm hoa hình đầu ở kẽ lá và đầu cành, dài 2 - 3 cm. Hoa vàng, quả dài 4mm.

2. Uncaria pedicellata Roxb. Toàn cây có lông ngắn màu gỉ sắt. Gai dài 2,5 - 3cm, khoẻ. Cụm hoa hình đầu ở kẽ lá và hình chùy ở đầu cành, dài 5 - 6cm. Hoa trắng. Quả dài 1,5 - 2cm.

3. Uncaria sessilifructus Roxb. Gai ngắn, cong nhiều. Cụm hoa rất dài, 40cm. Quả dài 8 - 12mm.

4. Uncaria acida (Hunt.) Roxb. Lá có màu đỏ nâu. Gai dài 2 - 3cm. Cụm hoa đơn độc hình cầu ở kẽ lá; dài 2cm. Quả dài 13mm.

Loài Uncaria rhynchophylla (Miq.) Jacks, nhập nội cũng được dùng.

Câu đằng và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Ưncaria Schreb. là một chi nhỏ trong họ Rubiaceae, gồm khoảng 50 loài, phần lớn là cây bụi hoặc cây bụi trườn, rất ít loài là cây gỗ nhỏ, phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới châu Á. Ở Malaysia có hơn 10 loài, Ân Độ 6 loài... Bên cạnh công dụng làm thuốc, có loài như Uncaria gambier Roxb. còn được trồng ở Malaysia dể sản xuất "gambier” sử dụng trong công nghiệp thuộc da.

Ở Việt Nam có 10 loài thuộc chi này, trong đó có 8 loài được sử dụng làm thuốc. Uncaria tonkinensis HaviLđược coi là loài đặc hữu Việt Nam. Nhìn chung, tất cả các loài câu đằng đều thuộc nhóm cây bụi trườn, phân bố rải rác khắp các tỉnh miền núi. Càng vào các tỉnh phía nam (từ Thanh Hóa trở vào), số lượng loài càng tập trung nhiêu hơn. Độ cao phân bố của chúng cũng thay đổi tùy loài, từ 200 cho đến hơn 1500m.

Các loài câu đằng là những cây ưa sáng, thường mọc thích hợp ở các kiểu rừng thứ sinh, ven rừng dọc theo các bờ suối hoặc trong các quần thể cây bụi trên đất sau nương rẫy. Cây sinh trưởng phát triển mạnh trong mùa mưa ẩm, có hoa quả vào cuối mùa thu. Quả già có thể tồn tại đến đầu mùa hoa năm sau. Tuy nhiên, chỉ có những cây không bị chặt phá thường xuyên mới có hoa quả. Cây được chiếu sáng đầy đủ có hoa quả nhiều hơn cây bị che bóng. Tất cả các loài đều có khả năng tái sinh cây chồi sau khi chặt.

Việt Nam có thể là một trung tâm đa dạng cao của các loài câu đằng. Số loài được sử dụng làm thuốc nhiều. Trước năm 1990, ngành y tế thường xuyên tổ chức khai thác thu mua câu đàng để làm thuốc, gần đây không thu mua nữa. Tuy nhiên vẫn cần chú ý bảo vệ các loài câu đằng. Cây bị chặt phá bừa bãi do nạn phá rừng làm rẫy.

Cách trồng

Câu dằng đã được trồng ở các cơ sở nghiên cứu (Sa Pa, Tam Đảo, Văn Điển) thuộc Viện Dược liệu và các vườn thuốc quanh Hà Nội của quân đội và Viện Y học cổ truyền Vĩnh Phúc.

Đất trồng câu đằng chỉ cần thoát nước, đủ ẩm, không bị úng ngập.

Câu dằng có thể được nhân giống bằng hạt hoặc giâm cành. Thời vụ trồng vào tháng 9-10 hay tháng 2 - 3. Trồng bằng cách đào hố bên cạnh cày to, vìra để hạn chế bớt ánh nắng, vừa làm chỗ tựa cho cây. Hố đào sâu 50 - 60cm, rộng 60 - 70cm, lót phân chuồng hay mùn rác mục trộn đều với dất, sau dó gieo hạt hoặc trồng cây giống, lấp dất, dận chặt và tưới nước. Thỉnh thoảng cần làm cỏ, xới xáo, vun gốc và bón thèm phân cho cây sinh trưởng.

Bộ phận dùng

Đoạn thân (mấu cành) có gai ở kẽ lá, cong như lưỡi câu cứng của cây câu đằng, thu hái vào hè thu, rồi phơi hay sấy khô. Từng đoạn thân dùng không quá 3cm. Nên dùng đoạn bánh tẻ, tác dụng tốt hơn đoạn già. Gai dài chừng 2cm. Đoạn thân có 2 gai tác dụng tốt hơn đoạn thân 1 gai. Không dùng đoạn thân không có gai.

Dược điển Trung Quốc 1997 (bản in tiếng Anh) công nhận các loài Uncaria rhynchophyỉla, u. macrophylỉa, u. hirsuta, u. sinensis, u.sessili/ructus. Dược điển Việt Nam I, tập 2, 1983 cho phép dùng một số loài thuộc chi Uncaria.

Thành phần hóa học

Thành phần chính là alcaloid. Thân và rễ câu đằng Ư.rhynchophylla chứa 0,041% alcaloid toàn phần, trong đó rhynchophylin chứa 28,9% và isorhynchophylin 14,7% (Lâm Khải Thọ 1977).

Alcaloiđ được phân bố trong các bộ phận của u. rhynchophylla như sau:

-Móc, thân và lá: rhynchophylin, isorhynchophylin, corynoxein, isocorynoxein.

- Thân, lá; geissochiãn, valesiachotamin, akumigin, rhynchophin.

- Vỏ thân, cành: hirsutin, hirsutein.

- Gỗ: corynanthein, dihydrocorynanthein.

Các alcaloid nói trên được sắp xếp theo các nhóm hóa học:

- Nhóm oxindol: rhynchophylin, isorhynchophylin, corynoxein, isocorynoxein.

- Nhóm coiynan: coiynanthein, dihydrocorynanthein, hirsutein, hirsutin.

- Nhóm oxayohimban: akumigin, strictosamid, rhynchophin.

Tác dụng dược lý

1. Tác dụng hạ huyết áp. Nước sắc câu đằng trên thỏ gây mê với liểu 2 - 3g/kg tiêm tĩnh mạch, trên chó gây mê vối liều 0,5g/kg tiêm tĩnh mạch và trên chuột cống trắng bằng đường uống với liều 5,0g/kg đều có tác dụng hạ huyết áp rõ rệt. Theo tập quán kinh nghiệm nhân dân thường dùng móc câu đằng làm thuốc, nhưng trên thực nghiệm chứng tỏ tác dụng hạ huyết áp của cành và thân câu đằng không khác gì tác dụng của móc câu đằng. Trên mèo gây mê, alcaloid toàn phần của cau đằng với liều 200mg/kg hoặc hoạt chất rhynchophyllin với liều 20mg/kg tiêm tĩnh mạch cũng như trên chuột cống trắng gây cao huyết áp thực nghiệm, alcaloid toàn phần dùng bằng đường uống với liều 50mg/kg hoặc rhynchophyllin dùng tiêm phúc mạc với liều 20mg/kg đều thể hiện tác dụng hạ huyết áp rõ rệt.

Dạng chiết bằng ethanol từ câu đằng tiêm tĩnh mạch cho chuột cống trắng với liều 0,lmg/kg có tác dụng hạ huyết áp khá mạnh và kéo dài. Vị trí tác dụng của câu dẳng trong cơ thể rất rộng, cơ chế hạ huyết áp của câu đằng có liên quan đến thần kinh trung ương, thần kinh ngoại vi, và hệ tim mạch. Qua nghiên cứu huyết động học cho thấy tác dụng hạ huyết áp của câu đằng ở giai đoạn đầu chủ yếu là do trở kháng ngoại vi giảm, và tiếp sau đó là do lượng máu từ tim đẩy ra giảm. Nghiên cứu trên mèo và chó gây mê, chứng tỏ tác dụng của hoạt chất rhynchophyllin đối với huyết áp, nhịp tim và trở kháng ngoại vi đều giống như tác dụng của alcaloid toàn phần và đã chứng minh rằng tác dụng hạ huyết áp của rhynchophyllin là kết quả của công năng tim giảm vói sự giãn mạch máu ngoại vi.

2. Tác dụng chống loạn nhịp tim. Alcaloid toàn phần của câu đằng tiềm tĩnh mạch cho chuột cống trắng với các liều 15mg/kg, l0mg/kg, 15mg/kg tương ứng với 3 mô hình rối loạn nhịp tim do aconitin, clorua calci clorua bari gây nên đều có tác dụng chống loạn nhịp tim rõ rệt.

3. Tác dụng an thần. Nước sắc câu đằng trên chuột nhắt trắng bằng đường tiêm phúc mạc với liều 0,lg/kg thể hiện tác dụng an thần rõ rệt nhưng không có tác dụng gây ngủ.

4. Tác dụng đối vói hệ cơ trơn. Nước sắc câu đằng với nồng độ 17mg/kg có thể làm giảm trương lực của hổi trường cô lập chuột, đối kháng với tác dụng gây co bóp của histamin, alcaloid toàn phần của câu đằng bằng đường tiêm xoang bụng với liều l0mg/kg và bằng đường uống với liều 40mg/kg có tỷ lệ ức chế co thắt phế quản là 61,5% và 60% (P < 0,01).

Độc tính.

Độc tính cấp: Nước sắc câu đằng trên chuột nhắt 'trang bằng đường tiêm phúc mạc có LD50 = 29,0 ± 0,8g/kg, còn alcaloid toàn phần bằng đường uống có LD50= 514,6 ± 29,1 mg/kg, bằng dường tiêm phúc mạc có LDJ0= 144,2 ± 3,1 mg/kg, còn rhynchophyllin bằng đường tiêm phúc mạc có LD50 = 162,3mg/kg.

Độc tính bán cấp: Trên chuột cống trắng còn non, alcaloid toàn phần của câu đằng bằng đường uống vói liều dùng 50mg/kg, mỗi ngày một lần, dùng liên tiếp trong 14 ngày, không phát hiện thấy những biến đổi bệnh lý ở các phủ tạng của súc vật thí nghiệm.

Tính vị, công năng

Câu đằng có vị ngọt, tính mát, vào các kinh tâm, can, có tác dụng thanh nhiệt, bình can, tức phong, định kinh.

Công dụng

Câu đằng chữa kinh giật ở trẻ em, người lớn huyết áp cao, đau đầu, chóng mặt, trúng phong.

Liều dùng : 4,0 - 9,0g. sắc nước uống. Có thể dùng dạng bột.

Chú ý: Không nên sắc câu đằng quá lâu, đợi khi sắc các vị khác gần được mới cho câu đằng vào và để cho sôi 1 - 2 trào là được.

Bài thuốc có câu đằng

1. Chữa đau đầu, chóng mặt do huyết áp cao:

Câu đằng, cúc hoa, phòng phong, đảng sâm, phục thần, phục linh, trần bì, mạch môn; mỗi vị 15g, thạch cao 30g; cam thảo 7,5g. Tất cả nghiền thành bột, mỗi lần dùng 12g sắc nước uống, bỏ bã.

2. Chữa cao huyết áp:

Câu đằng 12g, tang diệp, cúc hoa, hạ khô thảo mỗi thứ 9g. Sắc nước uống. Hoặc câu đàng, thạch quyết minh mỗi thứ 15g, đồ trọng 9g, hoàng cầm 6g, ích mẫu, hạ khô thảo mỗi thứ 12g. sắc nước uống.

3. Chữa sốt kinh phong, chân tay co giật ở trẻ em:

Câu đằng 10 - 15g, kim ngân hoa 9g, bạc hà 3g, cúc hoa 6g, dịa long 6g. sắc nước uống.

4. Chữa trúng phong:

Câu đằng 30g, hàng bạch thược, địa long mỗi thứ 15g, trân châu mầu 90g, sinh đại hoàng 9g, nước trúc lịch 45ml. Ngày uống 2 thang ở giai đoạn cấp tính và 1 thang ở giai doạn hồi phục.

5. Chữa liệt thần kinh mật (VII):

Câu dằng 60g, dây hà thủ ô tươi 120g. sắc nước uống.

Câu Đằng 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC