Vị thuốc vần C

Cẩu Tích

03:13 18/05/2017

Tên đồng nghĩa: Dicksonia barometz Link., Aspidium barometz Willd.

Tên khác: Cây lông khỉ, lông cu li, cù liền, cù lần, kim mao, cút báng (Tày), co cút pá (Thái), nhài cù viằng (Dao), dạng pàm (K ho).

Tên nước ngoài: Golden moss (Anh); pitchawar, agneau de Scythie, cibotie (Pháp).

Họ: Cẩu tích (Thyrsopteridaceae).

Mô tả

Loại khuyết thực vật hay dương xỉ thụ trạng, có thân rễ mọc đứng, thường ngắn, to, phủ lông mềm màu vàng nâu. Khi cắt hết lá chỉ còn lại những gốc cuống thì thân rễ lúc này giống con cu ly. Lá kép dài 1 - 2m, chia nhiều lá chét xếp dạng lông chim, các lá chét này chia thành nhiều lá chét bậc hai sít nhau, lá chét bậc hai có gốc bằng nhau, đầu thon mảnh, lại chia thành nhiều đoạn thuôn hẹp, mặt trên màu lục sẫm, mặt đuôi nhạt hơn; cuống lá kép rất to và cứng, màu nâu, cũng có lông mềm.

Cơ quan sinh sản là những túi bào tử có áo màu nâu, mọc ở mặt dưới lá, xếp đều đặn ở hai bên gân giữa, trong đựng nhiều bào tử; bào tử hình tam giác hay hơi tròn, sần sùi, màu sáng hay đen nhạt, có cánh.

Mùa sinh sản: thàng 10-1.

Cây dễ nhầm lẫn:

1. Cây áo cốc (Dennstaedtia scabra (Wall.) T. Moore, họ Áo cốc (Dennstaedtiaceae).

Cây có thân rễ mọc bò, dài và nhỏ, lông mềm màu vàng nâu rất giống lông cẩu tích. Lá kép đài 30 - 50cm. Bào tử hình 4 mặt, màu vàng nhạt. Cây mọc trong rừng thưa ở vùng cao thuộc tỉnh Lào Cai, Tây Nguyên.

2. Cây lá lược (Microlepia speluncae (L.) T. Moore), cùng họ Áo cốc. Thân rễ mọc bò, có lông mềm hoặc cứng, dài, màu vàng nhạt. Lá kép dài 1 - 2m. Áo túi bào tử màu trắng nhạt, bào tử hình 4 mặt, lõm. màu vàng nhạt. Cây mọc hoang ở miền Bắc và miền Nam.

3. Cây vảy lợp (Davallia divaricata Blume), họ vảy lợp (Davalliaceae). Thân rễ dày, mọc bò, có lông dạng vảy mỏng, màu hung. Lá kép dài đến 40cm. Bào tử hình trứng hay hình thận, không màu. Cây mọc hoang, gập ở miền Bắc và miền Nam.

Cẩu tích và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Cibotium Kaulf. có khoảng 10 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới châu Mỹ và châu Á, trong đó cẩu tích là loài có vùng phân bố tương đối rộng, bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Lào, Malaysia, Ấn Độ, Philippin và Indonesia.

Ở Việt Nam, cẩu tích phân bố tập trung ở các tỉnh miền núi phía bắc: Hà Giang, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn.... ở Miền Nam, cây chỉ thấy ở một số vùng núi cao, như Ngọc Linh (Komtum, Quảng Nam), Lang Bian (Lâm Đồng), và Bi Đúp (Đắc Lắc) ...

Cẩu tích là cây ưa ẩm và có thể chịu bóng. Cây thường mọc thành từng đám hoặc thành những quần thể gần như thuần loại ở ven rừng hoặc dọc theo các bờ khe suối. Độ cao thường thấy từ 600m (ở miền Bắc) hoặc 800m (ở miền Nam) đến 1600m. cẩu tích mọc nơi đất ẩm và nhiều mùn. Thân rễ mọc vùi sát mặt đất hoặc nổi hẳn trên mặt đất. Ở những cây già, thân rễ lớn (1 - 3kg) thường có hiện tượng hóa gỗ nhiều và mục ruỗng ở giữa. Cây sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm. Mỗi năm mọc lên từ 3 - 5 lá. Sinh sản bằng bào tử. Bình thường cây cẩu tích không đẻ nhánh, nhưng nếu thân rễ bị chặt, phần còn lại có khả năng tiếp tục tái sinh.

Trữ lượng cẩu tích ở Việt Nam tương đối dồi dào. Ở những điểm có cây mọc tập trung, có thể khai thác từ 1 - 3 tấn thân rễ tươi trên một hecta. Nhu cầu trong nước mỗi năm khoảng vài trăm tấn. Những năm gần đây (1992 - 1998) loại dược liệu này bị khai thác ồ ạt (hàng ngàn tấn) để xuất khẩu qua biên giới. Hiện tượng khai thác và phá rừng làm nương rẫy, đã làm cho các vùng phân bố của cẩu tích bị thu hẹp. Thêm vào đó là quá trình sinh sản bằng bao tử (dặc diểm chung của quyết thực vật) rất phức tạp. Từ một cây cẩu tích con đến khi khai thác được, có thổ là 10 năm.

Cẩu tích đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam để lưu ý bảo vệ.

Bộ phận dùng

Thân rễ thu hái vào mùa hạ hay mùa đông, cạo sạch hết lông, để riêng dùng làm thuốc gọi là lông cu li hay kim mao. Nếu không lấy lông, có thể đốt hoặc rang thân rễ với cát nóng cho cháy hết lông, rồi ngâm nước, rửa sạch, đồ kỹ cho mềm, thái mỏng, phơi hay sấy khô. Khi dùng, tẩm dược liệu với rượu để một đêm, rồi sao vàng.

Dược liệu cẩu tích là những đoạn thân rễ có màu nâu hay nâu hơi hồng, đường kính 2 - 5cm, dài 4 - 10cm, mặt ngoài gồ ghề, chỗ lồi, chỗ lõm, xung quanh còn dính ít lông vàng nâu, chất cứng khó cắt, khó bẻ gẫy khi khô, vị đắng ngọt, cẩu tích dẽ bị mốc, cần bảo quản nơi khô ráo.

Thành phần hóa học

Thân rễ cẩu tích chứa 30% tinh bột. Lông culi chứa tanin và sắc tố. Yuan Zhong và cs (1996) đã phân lập từ thân rễ cẩu tích nhiều hợp chất và nhận dạng là p - sitosterol, acid stearic, daucosterol, acid protocatechuic, acid cafeic (CA 125. 67940).

Tác dụng dược lý

Thân rễ cẩu tích đã được nghiên cứu dược lý và nhận thấy có tác dụng chống viêm, tác dụng ức chế chủ yếu giai đoạn viêm cấp tính, tác dụng yếu trên giai đoạn mạn tính của phản ứng viêm. Nó có độc tính thấp.

Một bài thuốc bổ thận của đông y gồm 9 vị, trong đó có cẩu tích (chiếm 15% trọng lượng) đã được thử dược lý và chứng minh có tác dụng gây động dục kiểu oestrogen trên chuột nhắt cái.

Tính vị, công năng

Cẩu tích vị đắng ngọt, tính ấm, có tác dụng bổ can thận, mạnh gân xương, trừ phong thấp.

Công dụng

Thân rễ cẩu tích có tác dụng trị thấp khớp, tay chân nhức mỏi, đau lưng, đau dây thần kinh, người già đi tiểu nhiều lần, phụ nữ khí hư bạch đới. Ngày dùng 10 - 20g dạng thuốc sắc. Người bị bệnh thận hư nhiệt, nước tiểu vàng không nên dùng.

Ngoài ra, thân rễ cẩu tích còn có tác dụng chữa đau dây thần kinh hông, chứng đi đái dắt, đi đái són không cầm được, phụ nữ có thai đau khắp lưng người.

Lông vàng phủ xung quanh thân rễ cẩu tích dùng đắp các vết thương, vết đút tay chân để cầm máu. Các lông đó hút huyết thanh của máu và giúp cho sự tạo máu cục, làm cho máu chóng đông.

Theo tài liệu nước ngoài, thân rẽ cẩu tích được dùng làm thuốc bổ, thuốc giun và trị đau lưng. Những lông vàng hoặc nâu nhạt phủ quanh thân rễ có tác đụng cầm máu nhanh, khi áp dụng thích hợp gây cẩm máu mao mạch theo cơ chế cơ học.

Bài thuốc có cẩu tích

1. Chữa phong thấp, chân tay tê bại, không muốn cử động:

Cẩu tích 20g, ngưu tất 8g, mộc qua 12g, tang chi 8g, tùng tiết 4g, tục đoạn 8g, đỗ trọng 8g, tần giao 12g, quế chi 4g, nưóc 600g. sắc còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày.

2. Chữa đau lưng, mỏi gối do thận hư yếu:

Cẩu tích 20g, rỗ gối hạc 12g, củ mài 20g, rễ cỏ xước 12g, bổ cốt toái 16g, dây đau xương 12g, thỏ ty tử 12g, tỳ giải 16g, đỗ trọng 16g. Thêm nước, sắc uống.

3. Chữa đau nhức ngang lưng:

Cẩu tích 15g, ngưu tất l0g, đỗ trọng l0g, sinh mỗ nhân 12g, mộc qua 6g, nước 600ml. sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Có thể thêm 20ml rượu vào nước sắc khi uống thuốc, nếu người bệnh uống được rượu.

4. Chữa thận hư, sổng lưng đau mỏi, đái luôn

Cẩu tích, bạch đói, di tinh:ch 16g, thục địa 12g, dỗ trọng l0g, ô dược, củ súng, dây tơ hổng sao, quả kim anh, đều 8g, sắc uống.

5. Chữa phong thấp đau nhức khớp xương, tay chân yếu, mỏi hoặc bại liệt co quắp:

Cẩu tích 16g, tục đoạn, cốt toái bổ, đều 12g, độc hoạt l0g, xuyên khung, bạch chỉ, đều 4g, sắc uống.

Cẩu Tích 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC