Vị thuốc vần C

Cây Bún

10:20 30/05/2017

Toddalia asiatica (L.) Lam.

Tên đồng nghĩa: Toddalia aculeata Pers.

Tên khác: Cam núi, dây cám, kiến huyết phi, phi long trường huyết, cây hưu.

Tên nước ngoài: Wild orange tree, lopez - root tree, forest pepper (Anh); bois de patte de poule, bois de ronde, toddal (Pháp).

Họ: Cam (Rutaceae).

Mô tả 

Cây nhỏ, mọc bò, có thể dài đến 8 - 10m. Cành mảnh nhẵn, màu xám, có gai cong ở phía gốc. Lá mọc so le, dài 7 - 9 cm, gồm 3 lá chét, hình bầu dục, gốc thuôn, đầu có mũi hơi tròn, mép nguyên hoặc hơi khía răng.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùm đơn, đài 3-4 cm; hoa nhỏ, nhiều, khác gốc, màu vàng lục, lá đài 5 rất nhỏ, có lông ngắn ở .mặt trong, cánh hoa 5, đứng thẳng, nhẵn. Hoa đực có nhị mảnh, hơi dài hơn cánh hoa, bao phấn đính lưng. Hoa cái có nhị giảm thành nhị lép, bầu hình trứng, dài gần bằng cánh hoa, 2 - 7 ô, mỗi ô có 2 noãn.

Quả mọng, hình cầu, đường kính khoảng 1 cm, khi chín màu vàng cam, có rãnh, có mũi nhọn ở đầu, hạt có vỏ dày và có đầu, màu nâu sẫm hoặc đen.

Phân bố, sinh thái

Chi Toddalia Juss, chỉ có 1 loài ở Việt Nam là cây bún trên. Cây phân bố rải rác ở các tỉnh miền núi, từ Lào Cai, Yên Bái, đến Ninh Bình, Thanh Hoá, Quảng Trị và một số tỉnh khác ở Nam Trung Bộ, cũng như ở Tây Nguyên.

Trên thế giới, cây bún có ở Trung Quốc, Thái Lan, Ẩn Độ, Srilanca và Philippin,... (Nguyễn Tiến Bân, et al., 2003).

Cây bún thuộc loại cây bụi hay gỗ nhỏ, ưa sáng; thường mọc lẫn với các cây bụi khác ở đồi cây bụi hay rừng thứ sinh. Cây có bộ rễ cọc khoẻ, mọc cắm sâu đến lm, có khả năng chịu được hạn (ở vùng đồi cây bụi ven biển ở Nha Trang và Ninh Thuận). Cây bún ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt và bằng cách mọc cây chồi từ gốc sau khi bị chặt. Cây có thê trồng đưọc bằng hạt.

Bộ phận dùng

Rễ.

Thành phần hoá học

Rễ có vị chát, chứa một chất nhựa độc, được sử dụng trong săn bắn thú rừng.

Vỏ rễ chứa các alcaloid như: toddalin (clielerythrin) m.p 204 - 05"c, toddalinin (diliydroclielerythrin) m.p 165°C; 7, 8 - dimetlioxy - 2' - 3' - methylen - dioxy -1,2- benzophenantridin, (CjoHlsQjN) m.p 220 - 21°c [The wealth of India, 1976, vol.x, p.258], berberin, toddalidimerin [Phạm Hoàng Hộ, 2006, Cây có vị thuốc ở Việt Nam, p.349], norichelerythrin, oxychelerytlirin, clielerythrin - T - cyanid [Trung dược đại từ điển, 1993, vol.I, 631 - 633].

Ngoài ra trong vỏ rễ còn chứa các chất skimmianin 8 - axetyl diliydrocheleiythrin, avicin, dihydronitidin, 8 - fagarin, toddaculin, coumuraiin, aculleatin, toddalolacton (C|6H2oO(,) ¡sopimpinellin, toddanon, toddanol, toddasin, toddalenon, glycosid diosmin, acceleatin, toddaquinolin, amotiamamid, acid béo (3%) và resin (7%) [CA, 1956, 50: 13961c],

Dich chiết cồn của lá có tác dụng kháng khuẩn chứa tinh dầu có mùi vị giống như tinh dầu quế [Phytochem, 1982,21(1)252], [Phytochem, 1980, 20(12)2781].

Tác dụng dược lý

1. Độc tính cấp

Toàn cây bún bỏ rễ, chặt nhỏ, rửa sạch, phoi khô, nghiền thành bột khô, rồi chiết bằng ethanol 50%, sau đó, cô dưới áp lực giảm đến dạng cao khô. Đã xác định độc tính cấp và thấy LD50 củacao khô, dùng đường tiêm phúc mạc cho chuột nhắt trắng là 250 mg/kg [Dhawan et al., 1977, Indian J.Exptal biology, vol. 15: 208 - 219]. 

2. Tác dụng lợi tiểu

Cao khô cây bún với cách chiết như trên, cho chuột cống trắng uống liều 60 mg/kg có tác dụng lợi tiểu rõ [Dhawan et al., 1977, Indian J. Exptal Biology, vol. 15: 208 - 219],

3. Tác dụng chống co thắt hồi tràng chuột lang cô lập

Cao khô cây bún chiết bằng ethanol, ở nồng độ 10 và 50 mg/ml dịch nuôi, có tác dụng ức chế sự co bóp hồi tràng chuột lang cô lập do các tác nhân gây co thắt như acetylcholin clorid (0,25 ng/ml) hoặc histamin dihydrophosphat (2 ng/ml). Trong số các coumarin chiết được từ cây bún, clorocoumarin có tác dụng chống co thắt mạnh nhất, khi thử trên chế phẩm hồi tràng chuột lang cô lập, là 5, 7 - dimethoxy - 6 - (3 - cliloro - 2 - hydroxy - 3 - metliylbưtyl) coumarin [Indian Drugs, 1989, 26: 706].

4. Tác dụng kích thích cơ trơn

Trên động vật thí nghiệm, cao cây bún có tác dụng kích thích cơ trơn ở họng, gây co thắt khí phế quản; kích thích co cơ trơn ở mạch máu, nên gây tăng huyết áp; kích thích nhu động ruột, nhưng lại làm giãn cơ thắt, nên gây tiêu chảy.

5. Tác dụng gây sẩy thai

Chất nhựa đắng trong rễ cây bún có tác dụng kích thích tử cung co bóp gây sẩy thai ở chuột lang ở liều nhỏ; liều lớn gây liệt và chết [Chopra et al., 1999, Glossary of Indian Medic. Plants, NXB NISC, New Delhi, p.245].

6. Tác dụng chống sốt rét

Nước hãm vỏ rễ cây bún có tác dụng trên ký sinh trùng Plasmodium vivax và p. falciparum [Kirtikar et al., 1998, Indian Med. Plants, NXB Dehra Dun, India, p.465]. Mcoumarin mới có tác dụng chống sốt rét là 5, 7 - dimethoxy - 8 - (3 - hydroxy - 3 - methyl - 1 - buten) coumarin được phân lập từ vỏ rễ của cây bún [Hellen et al., 2000, Fitoterapia, vol.71, 6: 636 - 640], Những nghiên cứu này là cơ sở cho việc sử dụng cây bím để chữa sốt rét trong y học dân gian.

7. Tác dụng khủng vi sinh vật

Tinh dầu chiết được từ vỏ rễ cây bún có tác dụng kháng vi sinh vật [Saxena và Sliarma, 1999, Fitoterapia, vol.70(l): 64 - 66].

8. Tác dụng chống kết tập tiểu cầu

Từ thân và rễ cây bún, người ta đã phân lập được hơn 30 hợp chất, trong đó có nhiều chất đã xác định được cấu trúc hoá học. Bằng cách chiết phân đoạn và thử tác dụng chống kết tập tiểu cầu, đã xác định được 7 phân đoạn có hoạt tính chống kết tập tiểu cầu khá mạnh [lan - Lih Tsai et aL 1998, Phytochemistry, vol.48(8): 1377 - 1382],

9. Tác dụng chống loạn nhịp tim

Một alcaloid được chiết từ lá cây bún có tác dụng chống loạn nhịp tim kiểu dẫn chất quinolinic (như quinidin).

10. Tác dụng độc

Toddalin, một glycoalcaloid chiết từ lá cây bún là một chất độc với thần kinh - cơ và ức chế tim; liều thấp làm tăng huyết áp; có tác dụng kích thích niêm mạc, làm tăng tiết nước bọt. Rễ cũng có toddalin và còn có toddalinin, toddalolacton; đặc biệt có nhựa và glycosid cũng rất độc [Chopra et al., 1999, Glossary of Ind. Med. Plants, p.246, NXB NISC, New Delhi].

Tính vị, công năng

Vỏ rễ cây bún có vị hăng, cay, hơi ngọt, rất đắng, mùi thơm, tính nóng đặc biệt (rễ khi mới cắt), có tác dụng kiện vị, tiêu thực, thanh nhiệt, trừ thấp, giảm đau.

Công dụng

Vỏ rễ và rễ con cây bún là thuốc bổ thơm, kích thích tiêu hoá được dùng khi ăn không ngon, đầy chướng bụng, cơ thể suy kiệt, người mới ốm dậy. Liều dùng: 0,3 - 0,5g bột vỏ rễ, hãm với một cốc nưóc sôi uống, ngày 2-3 lần. Để chữa sốt cao, sốt rét, đau xương khớp dùng rễ và vỏ rễ 10 - 15g sắc uống hoặc ngâm rượu uống.

Nhân dân Ấn Độ dùng vỏ rễ và rễ nhỏ cây bún làm thuốc chữa lỵ và điều kinh; quả cay như hồ tiêu để chữa ho và cũng được dùng làm gia vị; lá được dùng chữa đầy bụng, ăn lá tươi vào sáng sớm để chữa lao phổi.

Ở Trung Quốc, nhân dân dùng vỏ rễ và rễ nhỏ cây bún để chữa đau dạ dày, thấp khớp, đau khớp, đau nhức xương, đau cơ, đòn ngã tổn thương, kinh nguyệt không đều, thống kinh, vô kinh, còn chữa nôn ra máu, chảy máu cam, chảy máu tử cung.

Ở đông Phi Châu, vỏ rễ và rễ nhỏ cây bún được đùng để kích thích tiêu hoá, chữa chướng bụng, khó tiêu; quả chữa ho. Ở đào Reunion, nhân dân dùng rễ cây bún chữa đau dạ dày, tiêu hoá kém, đòn ngã tổn thương và sốt rét.

Dùng ngoài, lấy vỏ rễ tươi cây bún giã nát hoặc bột vỏ rễ khô chiêu với ít nước làm thành bánh để bó gẫy xương hoặc đắp lên vết thương chảy máu. Lá tươi giã nát đắp ngoài trị mụn nhọt, viêm da có mủ.

Quả có thể ăn được khi thật chín, nhưng có độc, ăn nhiều sẽ bị ngộ độc, choáng váng.

Chú ý: Phụ nữ có thai không được dùng bất kỳ bộ phận nào của cây bún.

Bài thuốc có cây bún

Chữa thấp khớp:

Quả chưa chín và rễ cây bún giã. nát, trộn với dầu vừng hoặc dầu lạc, rồi xoa vào chỗ đau [Kirtikar et al., 1998, Ind. Med. Plants, Dehra - Dun, India, p.465].

Cây Bún 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC