Vị thuốc vần C

Cây Chay

03:19 18/05/2017

Tên đồng nghĩa: Artocarpus masticulata Gagnep.

Tên khác: Chay Bắc Bộ, mạy khoai (Tày).

Tên nước ngoài: Acomas (Pháp).

Họ: Dâu tằm (Moraceae).

Mô tả

Cây gỗ, cao 10 - 15 m. Thân mọc thẳng. Cành phân nhánh, lúc non có lông màu hung, sau nhẵn, màu xám. Lá mọc so le, hình ngọn giáo, dài 20 - 25 cm, rộng 9-12 cm, gốc tròn, đầu có mũi nhọn, mặt trên nhấn, mặt dưới có lông ngắn màu hung hay trắng nhạt trên các gân nổi rõ; cuống lá mảnh, có lông thưa; lá kèm nhỏ.

Cụm hoa đực mọc ở kẽ lá, thuôn dài, hơi cong, cuống có lông, lá bắc hình khiên, bao hoa hình bầu dục, nhị hình chóp; cụm hoa cái hình bầu dục, cuống có u lồi và lông mềm, bao hoa hình ống, bầu có vòi lộ ra ngoài bao hoa.

Quả phức hình bầu dục có vỏ mềm, màu vàng khi chín, nhiều nhựa dính; hạt to.

Mùa hoa quả: tháng 5-8.

Cây chay và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Những loài thuộc chi Artocarpus J.R & G. Forster có tên gọi là "Chay", ở Việt Nam gồm 3 loài, trong đó loài chay ở đây thường được gọi cụ thể là "chay Bắc Bộ", để phân biệt với 2 loài kia là Artocarpus peteỉotii Gagnep và A. styracifolius Pieưe (Vu Van Dung et al, 1997). Cũng có tài liệu xếp một số loài chay tương đương như các loài phụ (subspecies) của loài A. nitidus Trécul (B. Seibert & P.C.M. Jansen, 1992).

Chay Bắc Bộ được coi là loài đặc hữu của Bắc Việt Nam. Cây mọc tự nhiên, phân bố ở một số tỉnh thuộc vùng núi ở Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Thái và Hà Bắc cũ. Do có quả chín ăn được, nên từ lâu chay đã được trồng. Tuy nhiên, qua quá trình chọn lọc và gây trồng, cây cho quả to hơn khi chín có vị ngọt hơn cây mọc tự nhiên.

Chay là loại cây gỗ mọc nhanh, ưa sáng và ưa các loại đất feralit có tầng đất thịt sâu. Cây mọc tự nhiên thưòng thấy ở rừng kín thường xanh ẩm; độ cao dưói 700m; lẫn với một số loài cây gỗ khác như Duabanga sonneratioides, Engelhardtia Chrysoỉepìs, Pentophorum tonkinensis... Nhân dân ở vùng trung du (Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Tây...) thưòng trồng chay ở vườn, cùng với một số cây ăn quả khác như mít, bưởi, chanh, cam, nhãn... Chay có hoa đơn tính. Mùa hoa quả kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8. Chay tái sinh tự nhiên chủ yếu bằng hạt, nếu cây bị chặt, phần gốc mọc lên nhiều chồi. Chay được trồng chủ yếu cũng từ hạt hoặc cây chồi mọc lên từ rễ.

Cách trồng

Chay được trồng chủ yếu ở vùng trung du. Cây không kén đất, có khả năng chịu hạn, ít bị sâu bệnh.

Chay được gieo trồng bằng hạt. Hạt chay nhanh mất sức nảy mầm, vì vậy khi quả chín vào tháng 7-9, cần lấy hạt gieo ngay. Đến mùa xuân hoặc mùa thu năm sau, đánh cây con đi trồng. Khi trồng, đào hố cách nhau 5 - 7 m, bón lót 15 - 20 kg phân chuồng mục rồi đặt cây, lấp đất gần đầy hố, cắm cọc buộc giữ cho gió khỏi lay gốc cây và tưới ẩm cho đến khi cây bén rễ.

Chay không cần chăm sóc nhiều. Thỉnh thoảng chỉ cần xới xáo, làm sạch cỏ quanh gốc. Muốn cây tốt, sai quả, hàng năm nên bón thúc cho mỗi cây 20 - 30 kg phân chuồng.

Bộ phận dùng

Quả và rễ.

Thành phần hóa học

Quả chay còn xanh chứa solasodin (cả solasonin).

Dịch quả chứa dimethyl nitrosamin và nhiều nitrosamin.

Lá có nhiều protein và calcium.(The Wealth of India IX, 1972).

Hạt có lectin, trong đó 2 peptid được xác định có trọng lượng phân tử 15.000 và 18.000 dalton (CA 110: 54.500 vv).

Từ vỏ thân cây chay thu hái ở Hà Nội, Trịnh Phương Liên và cs, 1998 đã phân lập và nhận dạng được một số chất thuộc nhiều nhóm hóa học:

- Stilben: oxyresveratrol 0,0022%.

- Flavonoid: (+) - afzelechin 3-O-a-L- rhamnopyranosid 0,0005%, (±) - catechin 0,050%

- Triterpenoid: ß - amyrin acetat 0,0038%, olean - 9 (11), 12 - dien - 3ß - yl acetat 0,0014%, 11 - ceto - ß - amyrenyl acetat 0,0014%, 3ß - acetoxy - 3 - o - norlupan - 20 - on (0,0004%), acid betulenic 0,0005%, lupeol 0,0006%.

- Benzofuran: artotonkin.

(Pharmazie 1998, 53 (5), 353).

Tác dụng dược lý

Từ năm 1994, giáo sư Phan Chúc Lâm - Viện Quân Y 108 đã chẩn đoán và chữa khỏi các trường hợp liệt bằng lá cây chay, mà nguyên nhân có thể do bị nhược cơ, một bệnh tự miễn phải điều tri bằng các thuốc ức chế miễn dịch. Xuất phát từ cơ sở này, các nghiên cứu theo hướng ức chế miễn dịch của lá cây chay được triển khai. Tác giả Nguyễn Thị Vinh Hà và cộng sự đã chứng minh tác dụng ức chế miễn dịch của dạng chiết toàn phần (DYI) từ lá chay trên chuột nhắt trắng. Học viện Quân y và Viện Y học cổ truyền đã thử nghiệm tác dụng lên hệ thống miễn dịch của dạng flavonoid lá chay qua các thử nghiệm thải bỏ mảnh ghép và ức chế phản ứng tạo quầng dung huyết của tế bào tạo kháng thể. Trần Vân Hiền và cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng của Artoca - một chế phẩm từ flavonoid lá chay đối với đáp úng miễn dịch của tế bào lympho của bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống (systemic lupus erythematosus). Kết quả Artoca với nồng độ 150 |ig/ml trở lên, thí nghiệm ngoài cơ thể có tác dụng ức chế sự chuyển dạng tế bào lympho một cách có ý nghĩa. Các tác giả Trịnh Phương Liên, Trần Văn Sung dã nghiên cứu sâu thêm và chứng minh dịch chiết bằng ethyl acetat từ lá chay (F2) có tác dụng ức chế chuyển dạng hơn 50% lympho bào ở nồng độ 312|ig/ml và dạng ± catechin tồn tại trong lá chay ở nồng độ 187 (Ig/ml có khả năng ức chế chuyển dạng của khoảng 50% các tế bào lympho và ở nồng độ 750)j.g/ml thì ức chế gần như hoàn toàn.

Tính vị, công năng

Quả chay có vị chua, tính bình, có tác dụng thu liễm, cầm máu, thanh nhiệt, khai vị giúp tiêu hóa làm ăn ngon.

Công dụng

Cây chay được trồng để lấy quả ăn, vỏ rễ để ăn trầu có tác dụng làm chắc răng. Quả, rễ và lá còn được dùng làm thuốc. Quả chay chín (5-7 quả) ăn hoặc ép nước uống chữa phổi nóng, ho ra máu, thổ huyết, chảy máu mũi, đau họng, dạ dày thiếu toan, kém ăn. Nếu không có quả chín, lấy 16g quả chay khô hay rễ chay, sắc nước uống. Rễ và lá được dùng chữa đau lưng, mỏi gối, tô thấp vói liều dùng ngày 10 - 20g dưới dạng thuốc sắc. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị khác như thiên niên kiện, thổ phục linh. Rễ chay còn chữa rong kinh, bạch đới.

Cây Chay 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC