Vị thuốc vần C

Cây Nổ

03:10 19/05/2017

Tên đồng nghĩa: Fluggea virosa (Roxb. ex Willd.) Baill., F. microcarpa Blume

Tên khác: Mác tẻn (Tày), co cáng pa (Thái).

Tên nước ngoài: Northern sotho (Anh).

Họ: Thầu dầu (Euphorbiaceae).

Mô tả

Cây nhỏ dạng bụi,cao 2-3m.Cành  có cạnh hoặc hơi dẹt,lúc già nhẵn, màu nâu sẫm.Lá mỏng,mọc so le,hình bầu dục,dài 3-4cm,rộng 1-2cm,gốc thuôn,đầu tù hơi nhọn,mép nguyên ;lá kèm hình tam giác.

Hoa nhỏ,đơn tính khác gốc,mọc ở kẽ lá,hoa đực mọc thành cụm gồm nhiều hoa,đài 5 răng hơi lõm ở đầu, nhị 5, rời nhau, nhụy lép uốn cong ở đỉnh; hoa cái mọc riêng lẻ hoặc 2-3 cái, đài giống hoa đực, bầu hình trứng, 3 ô.

Quả nang, hình cầu, màu trắng; hạt màu đỏ nâu, bóng.

Mùa hoa: tháng 6 - 8; mùa quả: tháng 9-11.

Tránh nhầm với cây phèn đen về dạng cây.

Cây nổ và tác dụng chữa bệnh của nó

 

Phân bố, sinh thái

Securinega Comm, ex Juss. chỉ có một loài là cây nổ ở Việt Nam. Trên thế giới, câv nổ ghi nhận phân bố ở châu Á, bao gồm vùng Đông - Nam của Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Nhật Bản, đảo Đài Loan, Hải Nam, Việt Nam, Thái Lan và Philippin. Ở Việt Nam, cây nổ có rải rác ở hầu khắp các tỉnh thuộc vùng núi thấp, trung du và dồng bằng ở phía bắc. Ở Tây Nguvên và Đông Tây Nguyên cây phân bố thưa thớt hơn và chỉ thấy ở vùng núi. Độ cao phân bố thường dưới 600 m ở các tỉnh phía bắc, và có thể đến 800 m ở các tỉnh phía nam.

Cây nổ đặc biệt ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc ở ven rừng ẩm, dọc theo các bờ khe suối ở cửa rừng, bờ nương rẫy hay bờ ruộng nhưng gần nguồn nước, ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, cây nổ có thể gặp trong các lùm bụi quanh làng, ở bờ ao, bờ sông, bờ kênh mương. Vào mùa mưa lũ, cây có khả năng chịu được ngập úng trong vài ngày nhưng không chịu hạn, nên gần như ít gặp trong các quần hệ cây bụi ở đồi. Cây nổ ra hoa quả rất nhiều hàng năm. Quả chín ăn được phát tán xa nhờ dòng nước,,song đôi khi cũng là thức ăn của cá,chim và sóc.Cây có khả năng mọc chồi khỏe sau khi bị chặt.

Bộ phận dùng

Cành lá thu hái quanh năm, phơi khô. Rễ và vỏ thân vào mùa thu rửa sạch, thái mỏng phơi hay sấy khô.

Thành phần hóa học

Cây nổ chứa nhiều alcaloid: Securinin d.c: 142 - 43° là alcaloid chủ yếu cùng với các alcaloici virosecurinin, norsecurinin (d.c 81 - 82°) hordenin (đ.c 117,5°). Lá chứa viroallosecurinin (đ.c 135 - 37°); bergenin (đ.c 138 - 39°) các hợp chất độc với tế bào (cvtotoxic) vừosecarinin (J. pharm. Sci 1991, 80, 325), ethyl brevifolin carboxvlat (Phvtochemistry 1991, 30, 2435; Tetrahedron 1963, 19, 609), bergenin (Phytochemistry 1972, 11, 452)

Rễ và vỏ rễ chứa alcaloid với hàm lượng 0,6 - 1% gồm flueggeine (đ.c 228°) virosin (đ.c 135 - 36°) dihyclronorsecurinin (CA. 1965,11633d).

Rẽ còn có norbcrgenin và securinin.

Viro securinin và viroallosecurinin là 2 chất có tác dụng độc với tế bào. Các nối đôi a p, Y ô của lacton chưa no ở các vòng B, c, D là cấu trúc cần thiết để cho tác dụng độc tế bào có ý nghĩa. (CA. 115, 1991, 41290 f).

Tác dụng dược lý

1. Độc tính cấp alcaloid toàn phần của lá cây nổ: Xác định độc tính cấp dùng đường uống cho chuột nhắt trắng thấy alcaloid toàn phần của lá có LD50 = 592 mg/kg.

2. Aminazin làm giảm độc tính của alcaloid cây nổ: Trước hết, tiêm bắp thịt đùi chuột nhắt trắng 0,1 ml dung dịch aminazin 1,25% (dùng loại ống tiêm aminazin 25 mg/2ml) tức là 1,25 mg cho một con chuột 20g. Sau 10 phút cho uống alcaloid toàn phần chiết từ lá cây nổ và quan sát tỷ lệ chuột chết. Nhóm dùng liều 750 mg/kg là liều khi xác định độc tính cấp, thấy tỷ lệ chuột chết là 100%, thì nay chuột chỉ chết 60% (3/5 con). Nhóm dùng liều 650 mg/kg, nêu không dùng aminazin, chuột chết 80% (4/5 con); nêu dùng aminazin, chuột chỉ chết 40% (2/5 con).

3. Tác dụng kháng khuẩn: Dịch chiết toàn phần lá cây nổ, có tác dụng kháng khuẩn trên Staphylococcus aureus.

4. Tác dụng kéo dài thời gian ngủ: Cao khô chiết bằng cồn 50° của thân và lá cây nổ có tác dụng kéo dài thời gian ngủ do pentobarbiton, thí nghiệm trên chuột nhắt trắng.

5. Tác dụng trên hồi tràng chuột lang cô lập: Dung dịch cao chiết nước của thân và lá cây nổ có tác dụng ức chế sự co bóp hồi tràng chuột lang cô lập gây nên do acetylcholin chloriđ hoặc histamin phosphat.

6. Tác dụng độc trên ấu trùng tôm biển: Các mẫu thử là alcaloid toàn phần lá cây nổ và các phân đoạn tách ra từ alcaloid toàn phần gồm S0, S[, s,, S3 và S4. Dùng trứng tôm biển thu được ở tỉnh Cần Thơ, nuôi trong các giếng của khay nhiều lỗ. Kết quả thấy alcaloid toàn phần và phân doạn Si là securinin có độc tính mạnh nhất ở nồng độ 0,5 mg/inl.

Tính vị, công năng

Lá và toàn cây nổ có vị đắng, hơi chát, tính mát, ít độc, có tác dụng khu phong, trừ thấp, thanh nhiệt, giải dộc, chỉ huyết, giảm đau, giảm ngứa.

 Công dụng

Cành lá cày nổ được dùng chữa viêm da dị ứng, mụn nhọt, mụn đã có mủ, vết thương, vỏ thân, vỏ rễ được dùng làm thuốc trừ sâu và duốc cá. Vị thuốc có độc, nhưng ở Ấn Độ, người ta dùng nước hãm thân cây để chữa kiết lỵ, tiêu chảy. Rễ chữa sốt nóng, sốt rét, chóng mặt, chân tay run. Ngày 6 - 12g sắc uống.

Bài thuốc có cây nổ

1. Chữa chóng mặt, choáng váng, mệt mỏi, chân tay run:

Rễ cây nổ, dây đau xương, mỗi vị 8g, thái mỏng, sấy khô, sao vàng sắc uống.

2. Chữa sỏi thận, sỏi bàng quang:

Rễ cây nổ 2kg, rỗ củ cây thiên lý lkg, lá hà thủ ô lkg, râu ngô non lkg. Rễ nổ và rễ thiên ly hấp cách thủy cho chín, phơi khô, thái nhỏ, tán bột. Hà thủ ô và râu ngô phơi âm can cho khô, tán bột. Tất cả trộn đều luyện với mật ong, làm thành viên 0,5g. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 viên với nước chanh đường.

Cây Nổ 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC