Vị thuốc vần C

Chàm Lá Nhỏ

03:16 19/05/2017

Tên khác: Chàm, chàm nhuộm, chàm đậu.

Tên nước ngoài: Common indigo, yellow wild indigo, true indigo, dyer's indigo (Anh); indigotier (Pháp).

Họ: Đậu (Fabaceae).

Mô tả

Cây nhỏ, mọc thành bụi, cao 50 - 70 cm. Cành non có lông mịn, sau nhẵn, có cạnh, chỉ còn lông ở ngọn. Lá kép lông chùn, mọc so le, 7 - 15 lá chét nhỏ, mọc dối, hình trái xoan, gốc thuôn, đầu tròn có mũi nhọn, dài 15 mm, mặt trên có lông rải rác, mặt dưới lông nhiều hơn; cuống lá kép dài 7 - 10 cm.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùm ngắn; hoa màu đỏ hồng.

Quả đậu thẳng hoặc cong, dài 3-4 cm, có ít lông, hạt 5-10, hình khối, màu nâu.

Mùa hoa quả: tháng 4-6.

Các loài Indigofera galegoides DC.,I. suffruticosa Mill. cũng được dùng với công dụng tương tự.

Chàm lá nhỏ và tác dụng chữa bệnh của nó

 

Phân bố, sinh thái

Indigofera L. là một chi lớn trong họ Fabaceae, gồm hầu hết là cây thảo, cây bụi hoặc dưới bụi, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, tập trung nhiều nhất ở châu Phi. Một số loài là những cây trồng khá quen thuộc ở vùng Nam Á và Đông Nam Á để nhuộm vải, như lndigofera arrecta, 1. suffructicosa, I. sumatrana và 1. tỉnctoria... Một số loài khác làm thức ăn khô cho gia súc, phủ đất hoặc làm phân xanh.

Ở Việt Nam, chi Indigofera L. có 25 loài, 3 loài (/. galegoides, 1. suffructicosa, I. tinctoria) được dùng làm thuốc và cũng cho chất chàm nhuộm vải. Loài l. galegoides là cây mọc tự nhiên, hai loài còn lại chủ yếu gặp trong quần thể trồng, hoặc nếu có trong tự nhiên có lẽ cũng là dạng hoang dại hóa. Loài 1. tinctoria L. vốn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Á được trồng nhiều ở Ân Độ, Trung Quốc và Việt Nam. Ở Việt Nam, vùng trồng nhiều cây chàm lá nhỏ thường gắn với cộng đồng người Tày - Nùng ở vùng Đông Bắc, bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên và Tuyên Quang.

Chàm lá nhỏ là cây ưa ẩm và ưa sáng, thường được trồng thành từng đám liên tục trên nương rẫy. Độ cao thích hợp từ 400 đến khoảng 1300 m. Ở Ấn Độ, bên cạnh nhu cầu chất nhuộm vải, cây chàm lá nhỏ còn được trồng thành từng băng, xen với chè hoặc cà phê, vừa có tác dụng che phủ vừa làm màu mỡ thêm cho đất. Đây là kinh nghiệm có thể áp dụng vào Việt Nam.

Cách trồng

Chàm lá nhỏ được trồng ở nhiều nơi thuộc vùng núi, nhất là phía bắc. Cây ưa đất ẩm, thoát nước, nhiều mùn.

Cây được nhân giống khá dễ dàng bằng hạt. Đất được cày xới, để ải, bừa nhỏ, vơ sạch cỏ, có thể lên thành luống. Nếu đất xấu, có thể bón thêm phân lót. Hạt được gieo vào tháng 3 - 4 theo hốc với khoảng cách 50 X 40 cm, mỗi hốc gieo 3 - 4 hạt. Gieo xong dùng đất nhỏ phủ dày dộ 1 - 2 cm. Sau 5-7 ngày, hạt nảy mầm. Khi cây có 3 - 4 lá thật, tiến hành tỉa bớt, chỉ để lại mỗi hốc một cây khỏe nhất. Là cây họ đậu, sống khỏe nên chàm lá nhỏ không cần chăm bón nhiều. Thỉnh thoảng làm cỏ, xới xáo là đủ.

Lá hoặc thân mang lá được thu hoạch vào tháng 6 - 7. Nếu thu toàn bộ thân lá, phần gốc còn lại có thể tái sinh và cho thu hoạch lần thứ hai.

Bộ phận dùng

Cành, lá và rễ chàm, phơi khô.

Thành phần hóa học

Chàm lá nhỏ chứa glucosid gọi là indican, khi bị thủy phân cho glucose và indioxyl. Chất này bị oxy hóa trong không khí sẽ cho indigo có màu xanh sẫm (màu chàm), rất bền dùng để nhuộm quần áo.

Trong rễ cành, lá và hoa có các flavonoid như apigenin, kaempferol, luteolin, quercetin (Kamal. R.Mangla và cộng sự; CA.1991 115 231915 m).

Các rotenoid trong chàm lá nhỏ gồm deguelin, đihydrodeguelin, rotenol, rotenon tephrosin và sumatrol. Trong môi trường nuôi cấy mô RT từ hạt chỉ có 4 rotenoid có mặt trong callus (sumatrol và tephrosin vắng mặt). (Kamal. R. Mangla;CA.1993 119 24623g).

Hàm lượng rotenoid toàn phần cao nhất trong lá là 0,60%, rỗ 0,51%, hạt 0,4%, nụ hoa 0,34%, cành 0,32. (Kamal.R. Mangla Pharmazie 1987,42 (5) 356.

Chất nhầy galactomanan được chiết ra từ hạt chàm lá nhỏ có thành phần gồm D.manose 64,9% và D.galactose 25,1%. (gal) man-man (gal) 28%, (gal) man-man 26%, man-man (gal) 27,8%, man-man 17,5%, (Simừnova N.L và cộng sự; CA.1989 111 233411K).

Một số thuốc nhuộm tóc có thành phần chất mầu của chàm mèo: 0,001 - 20% (trọng lượng) nhân sâm (hàm lượng ginsennosid s 1,5%, 1 - 50% chất màu indigo, 5 - 95% nước.

Công thức thuốc nhuộm tóc màu nâu gồm:

Kết hợp 300g nước vói hỗn hợp của indigofera tintoria 70g; gingseng (ginsennosid > 1,5%) 5g, 5g lá móng Lawsonia inermis và polyquaternium 10 - 10% hoặc chàm lá nhỏ 70, lá móng 20, polyquaternium 10% 10, hòa loãng với 300g nước.

Tác dụng dược lý

Một loại thuốc viên của y học cổ truyền Trung Quốc bào chế từ một số dược liệu trong đó có chàm lá nhỏ, được dùng điều trị bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính. Chàm lá nhỏ được chứng minh là thành phần chính có hoạt tính chống căn bệnh này với kết quả tốt.

Nghiên cứu thực nghiệm với những khối u có thể ghép được chứng minh chàm lá nhỏ có tác dụng kéo dài thời gian sống của chuột nhắt trắng có bệnh bạch cầu L-1210 một cách đáng kể. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy chàm lá nhỏ có hiệu quả điều trị tốt trên người. Một thành phần có hàm lượng thấp trong chàm lá nhỏ, indirubin, có hiệu quả điều trị rõ rệt trên khối u ở động vật cũng như trong những nghiên cứu lâm sàng để điều trị bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính trên người. Ngoài ra, indirubin có thể làm tăng miễn dịch tế bào, và tăng lượng adenosin monophosphat vòng trong bạch cầu của bệnh nhân có bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính. Đã tổng hợp toàn phần indirubin từ xanh chàm (thanh đại), lấy từ chàm lá nhỏ và một số cây khác.

Indirubin có hiệu quả điều trị bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính với ít tác dụng phụ hơn so với chàm lá nhỏ. Trong 314 bệnh nhân, khỏi hoàn toàn 26%, đỡ 33%. Tác dụng phụ chủ yếu là đau bụng và tiêu chảy. Ở vài bệnh nhân có giảm tiểu cầu. So sánh với busulfan (Myleran), tỷ lệ có hiệu quả tương tự, nhưng tỷ lệ khỏi hoàn toàn với busulfan hơi cao hơn. Không có sự kháng chéo giữa 2 thuốc này. Một số dẫn chất của indirubin cho những kết quả tốt hơn indirubin.

Indirubin có hoạt tính ức chế carcinom Walker ở chuột cống trắng và ung thư phổi Lewis ở chuột nhắt trắng, cũng như ung thư vú Ca 615 và bệnh bạch cầu L 7212 ở chuột nhắt trắng. Nghiên cứu độc chất học trên động vật cho thấy khi thử nghiệm indirubin trong 1 tháng với liều cho uống 100 - 500 mg/kg, không thấy có tác dụng độc, kể cả tác dụng ức chế tủy xương.

Indirubin thúc đẩy chức năng thực bào của đại thực bào đơn nhân ở cả động vật bình thường và động vật có khối u, và điều này gợi ý là indirubin trị ung thư một phần thông qua tác dụng tăng cường chức năng miễn dịch.

Toàn cây chàm lá nhỏ có tác dụng hạ đường máu trong thử nghiệm trên chuột cống trắng. Hiện nay indirubin sản xuất bằng phương pháp tổng hợp được công nhận chính thức để sử dụng làm thuốc.

Tính vị, công năng

Bột chàm (thanh đại) có vị đắng nhạt, tính mát. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tán uất, lương huyết, tiêu ban chẩn, tiêu viêm, cầm máu.

Công dụng

Cây chàm lá nhỏ ít được dùng, nhưng bột chàm (thanh đại) chữa trẻ em kinh sợ, cam nhiệt, sốt cao phát cuồng, thổ huyết.

Ngày 2 - 6g bột hòa với nước, sắc thuốc thang uống.

Dùng ngoài, chữa viêm lợi chảy máu, viêm miệng, cam tẩu mã, rắn độc và sâu bọ cắn.

Kiêng kỵ: Trúng hàn không được dùng.

Bột chàm thiên nhiên được ghi trong Dược điển Trung Quốc và được dùng trong trung y làm thuốc cầm máu, hạ sốt, chống viêm, và an thần để điều trị những nhiễm vi khuẩn và siêu vi khuẩn.

Trong y học cổ truyền Ấn Độ, một cao chiết từ cây chàm lá nhỏ được dùng điều trị động kinh, rối loạn thần kinh, viêm phế quản và làm thuốc bôi dẻo để trị mụn nhọt, lở loét và trĩ. Nước ép lá được dùng trị bệnh dại. Dân địa phương dùng rễ chàm lá nhỏ trị một số rối loạn về tiết niệu. Cây còn chữa chứng khí hư và rắn cắn; Ở Camphuchia, nước sắc lá dùng chữa bệnh lậu.

Bài thuốc có chàm lá nhỏ

1. Chữa trẻ em sốt cao co giật, trợn mắt hôn mê:

Thanh đại hòa với nước, mỗi ngày uống 2 - 8g, chia làm nhiều lần.

2. Chữa chảy máu mũi:

Bột chàm, bổ hóng sao, tán bột, lượng bằng nhau, trộn lẫn, uống mỗi lần 4g.

3. Chữa viêm lợi chảy máu, lở mồm:

Bột chàm cùng với phèn chua, hoàng liên, đinh hương, dùng bôi.

4. Chữa trẻ em cam răng thối loét:

Dùng thanh đại bôi khắp chân răng, mỗi giờ bôi một lần.

5. Chữa đơn lở nổi bọng nước đau nhức:

Lá chàm giã nát đắp.

6. Chữa ngộ độc do uống thuốc quá liều lượng:

Lá chàm giã nhỏ, chế nước nguội, vắt lấy nước cốt, uống vài bát.

7. Trị bệnh bạch cầu hạt (bài thuốc thực nghiệm):

Thanh đại, mỗi lần uống 0,9 - l,5g; ngày 3 lần.

Chàm Lá Nhỏ 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC