Vị thuốc vần C

Chàm Mèo

08:44 20/05/2017

Tên đồng nghĩa: Strobilanthes flaccidifolia Nees.

Tên khác: Chàm lá to, chàm nhuộm, mã lam, đại lam, thanh đại, mạy ốt (Tày), co sơm (Thái), tần gàm (Dao).

Tên nước ngoài: The rum, assam indigo (Anh).

Họ: Ô rô (Acanthaceae).

Mô tả

Cây nhỏ, sống lâu năm, cao 40 - 80 cm. Thân nhẵn, phân nhánh nhiều, phình lên ở các mấu. Lá mọc đối, hình bầu dục hay hình trứng, gốc thuôn, đầu nhọn, mép khía răng tròn.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành bông thưa, lá bắc hình lá, những lá phía trên nhỏ hơn và không cuống; hoa mọc so le hay mọc đối trên cụm, màu lam tím hay tím hồng; lá đài hình chỉ; tràng hoa hơi cong, hình trụ ngắn hẹp ở phần dưới, phía trên loe ra và xẻ 5 thùy hình trứng, đầu cánh hoa nhăn nheo; nhị 4, 2 dài, 2 ngắn, hao phấn kéo dài; bầu nhẵn.

Quả nang, nhẵn, hẹp dài.

Mùa hoa quả: tháng 12-2.

Cây dễ nhầm lẫn:

Mang tên chàm nhuộm, còn có cây Indigofera tinctoria L. thuộc họ Đậu (Fabaceae). Có nơi gọi là chàm lá nhỏ để phân biệt với cây trên.

Chàm mèo và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Strobilanthes Blume là một chi lớn, được gộp thêm một số chi khác trong họ Acanthaceae như Carvia, Golfussia, Nilgirianthus, chúng hầu hết là các cây bụi, dưới bụi hoặc cây thảo, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á.

Chàm mèo có nguồn gốc ở vùng Nam Á, được trồng khá phổ biến ở Ấn Độ, Trung Quốc, Lào và Việt Nam để nhuộm vải màu chàm.

Theo một số tài liệu đã công bố, chàm mèo ở Việt Nam vừa thấy mọc tự nhiên, vừa được trồng. Tuy nhiên, qua thực tế, điều tra cây ở trạng thái trồng trọt là chủ yếu. Thường gặp ở các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn... trong cộng đồng ngưòi H'Mông nên có tên là "Chàm mèo". Cây ưa ẩm và ưa bóng, thường trồng ở nơi đất ẩm, dưới tán rừng gần bờ suối, hoặc trồng xen với các cây trồng khác trên nương rẫy và ở vườn nhà. Cây ra hoa quả nhiều vào tháng 11 - 12. Tuy nhiên chỉ có những cây không bị thu hoạch hoặc thu hái trước tháng 7 mới có hoa.

Cách trồng

Chàm mèo được trồng khá phổ biến ở vùng núi, ở độ cao từ 600 đến 1500 m. Cây ưa đất ẩm, thoát nước, nhiều mùn. Đồng bào các dân tộc thiểu số thường trồng chàm mèo ở thung lũng, khe suối, bìa rừng hoặc xung quanh nhà. Ở đồng bằng, cây chỉ sinh trưởng trong vụ xuân - hè, đến mùa thu bắt đầu tàn lụi.

Chàm mèo được nhân giống bằng cành. Vào tháng 2-3, chọn những cành bánh tẻ, chặt thành đoạn 3-4 đốt để làm giống.

Đất trồng chàm mèo cần cao ráo, thoát nước. Sau khi cày, để ải, bừa nhỏ, nhặt sạch cỏ, dùng 10-15 tấn phân chuồng mục, 100 - 150 kg lân, 50 - 75 kg kali để bón lót cho mỗi hecta. Phân lót có thể trộn đều với đất trước khi lên luống hoặc bón theo rạch sau khi lên luống. Luống cao 25 - 30 cm, rộng 80 cm. Rạch được xẻ ngang hoặc dọc theo luống, rạch nọ cách rạch kia 40 cm, sâu 15-17 cm. Cành chàm mèo được đặt xiên xuống rạch, cành nọ cách cành kia chừng 25 - 30 cm, sau đó lấp đất để lộ 1 - 2 đôi lá lên trên mặt đất và tưới ẩm thường xuyên. Sau 10-15 ngày, cành giâm bắt đầu ra rễ.

Cây chàm mèo sinh trưởng mạnh, sau 2-3 tháng đã phủ kín mặt đất. Việc làm cỏ chỉ cần thiết khi mới trồng và sau mỗi lứa cắt. Sau khi trồng 3-4 tháng đã có thể thu hoạch. Lứa đầu, chỉ nên hái lá gốc và lá bánh tẻ, những lứa sau có thể cắt cả đoạn ngọn mang lá dài 20 - 25 cm. Mỗi năm có thể thu 2-3 lứa. Sau mỗi lứa cắt, cần làm cỏ, bón phân, cắt bớt những đoạn thân quá dài để cây tái sinh. Sau đợt thu hoạch cuối cùng trong năm, có thể đốn gần sát đất, chỉ để lại một đoạn gốc dài 20 - 30 cm và dùng rơm rác phủ lên để cây qua đông.

Chưa phát hiện sâu bệnh gì đáng kể trên cây chàm mèo.

Bộ phận dùng

Cả cây hoặc lá, thu hái vào mùa hè, thu, phơi khô. Có thể chế bột chàm hay thanh đại mà dùng theo cách sau đây:

Cây tươi hoặc chỉ lấy lá, bỏ cành, hái vé cho ngay vào thùng gỗ hay bể xây bằng gạch. Đổ nước sạch vào, để lên men. Mùa nóng thường ngâm 2-3 ngày, nếu thời tiết mát thì 5 - 6 ngày. Nhưng thường ủ men ở nhiệt độ 30°c, trong khoảng thời gian 12 giờ. Sau đó, gạn lấy nước và lọc qua sàng để loại bỏ cọng lá. Đổ vôi cục vào để kiềm hóa dịch lọc (8 - 10 kg vôi cho 100 kg cây chàm). Dùng que khuấy liên tục 4 - 6 giờ để gây oxy hóa. Dung dịch sẽ nổi bọt và ngả màu xanh lam. Có thể dùng phèn để kết tủa bột chàm. Bột chàm được vớt ra, ép hết nước, cắt thành từng lát mỏng rồi phơi ở chỗ mát cho đến khô. Trong khi phơi; vật phẩm có thể có mùi amoniac và mốc. Khi dùng, cạo bỏ lớp mốc. Tùy theo cách chế biến, bột chàm có độ tinh khiết khác nhau. Chất lượng của bột chàm dược xác dinh bằng cách định lượng inđigotin. Bột chàm tốt phải chứa 60 - 70% inciigotin.

Thành phần hóa học

Lá chàm mèo chứa 0,4 - 1,3% indican (1 H indol - 3 y 1 - p - D glucopyranosid). Khi thủy phân, inđican cho indoxyl và glucose. Khi bị oxy hóa, indoxyl cho indigotin. Indigotin có màu xanh lam sẫm, ánh tía, thăng hoa ở 290° cho các tinh thể hình kim xanh lam. Indigotin không tan trong acid acetic băng, phenol, nước, alcol và ether, hơi tan trong tinh dầu thông và dầu béo.

Toàn cây chứa lupeol, betulin, lupenon, indigo, indirubin, 4 (3H) - quinazolinon và 2,4 (1H, 3H) - quinazolinedion. Indừubin ức chế sự phát triển các tế bào leukemia, còn 4 (3H) - quinazolinon có tác dụng hạ áp (Li L. và cs, 1993; CA 119: 24635n).

Tác dụng dược lý

1. Gây sẩy thai trên động vật chửa ở thời kỳ đầu thai nghén. Ở những lần có chửa sau, những động vật con đẻ ra vẫn bình thường.

2. Gây tăng co bóp tử cung một cách nhịp nhàng, kiểu tác dụng như của pituitrin và ergometrin. Cao chiết từ lg lá chàm mèo có hoạt tính co bóp tử cung tương đương 1 đơn vị pituitrin. Tác dụng gây co bóp tử cung khi đưa thuốc vào cơ thể con vật nguyên vẹn mạnh hơn nhiều so với khi cho thuốc tác dụng trực tiếp trên tử cung cô lập.

3. Kháng nội tiết sinh dục nữ, kháng oestrogen và kháng progesteron trên động vật cái.

4. Không có tác dụng ngừa thai, không chống sự làm tổ của trứng đã thụ tinh.

5. Độc tính cấp tính thấp, không ảnh hưởng đối với chức năng gan và thận trong thí nghiệm về độc tính bán cấp tính với liều có hoạt tính sinh học.

Chất tryptanthrin phân lập từ lá chàm mèo là một chất chống nấm mạnh đối với các nấm da. Thử trên nhiều loại vi khuẩn thấy tryptanthrin là chất kháng sinh có tính đặc hiệu cao đối với các loài nấm da là nguyên nhân gây bệnh nấm da ở bàn chân (tinea pedis) và đối với các loài vi khuẩn Bacillus. Cao chiết cả cây trừ rễ của loài Strobilanthes daỉhausiana Nees. có tác dụng trên co bóp hồi tràng cô lập động vật. Cao chiết cả cây Strobilanthes boerhaavioides Andr. có tác dụng lợi tiểu.

Indirubin ức chế phát triển các tế bào bệnh bạch cầu, còn 4 (3H) quinazolinon có tác dụng hạ áp.

Tính vị, công năng

Bằng một phương pháp chế biến đặc biệt, cây chàm mèo cùng với một số cây chàm khác cho bột chàm hay thanh đại có màu xanh lam, vị đắng nhạt, tính mát. Bột chàm có tác dụng thanh nhiệt, tán uất, lương huyết, giải độc, trị nhiệt độc, sưng lở.

Công dụng

Chàm mèo được dùng chữa trẻ em kinh sợ, cam nhiệt, sốt, sốt phát cuồng, viêm hạnh nhân, nôn mửa, thổ huvết. Ngày uống 4 - 6g cao lá trộn thêm đường, hoặc 1 - 4g bột thanh đại hòa với nước. Phụ nữ có thai không dùng. Dùng ngoài, cả cây chàm mèo nấu cao đặc bôi chữa chàm chốc, viêm lợi chảy máu, mồm miệng lở loét, rắn độc và sâu bọ cắn.

Viên thanh đại do Viện Dược liệu bào chế từ cao khô lá chàm mèo được ứng dụng để chữa cho các bệnh nhân bị rong kinh, bệnh nhân khỏi bệnh là 71%. Thuốc có tác dụng ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên ở tuổi dậy thì và tiền mãn kinh tỷ lệ khỏi bệnh cao hơn so với các lứa tuổi khác. Khi kinh nguyệt đã trở lại bình thường, nếu không ngưng thuốc, vẫn tiếp tục uống quá mức cần thiết, kinh nguyệt có thể bị chậm lại.

Trạm bảo vệ bà mẹ trẻ em khu Hai Bà (1969) thông báo chế phẩm chàm mèo điều trị khỏi rong kinh 83% số bệnh nhân. Trạm bảo vệ bà mẹ trẻ em khu Đống Đa (1969) nhận thấy chàm mèo có tác dụng gây cơn co tử cung, có thể thay thế pituitrin trong trường hợp phá thai to bằng phương pháp Kovac.

Cao chàm mèo phối hợp với cao ích mẫu đã gây sẩy thai cho 24/38 thai phụ ở giai đoạn sớm (thời kỳ đầu thai nghén) đạt 63%.

Theo tài liệu nước ngoài, lá chàm mèo có tác dụng làm săn và lợi tiểu, và được coi như có tác dụng làm tiêu sỏi. Người Malaysia đắp lá chàm mèo để điều trị bệnh sốt rét. Chàm mèo là vị thuốc dân gian được dùng ở Nhật Bản để chữa bệnh tinea pedis (là bệnh nhiễm nấm ở bề mặt da chân, đặc biệt ở giữa những ngón chân và trên bàn chân, gây bởi những loài Trichophyton hoặc bởi Epidermophyton floccosum bệnh gây ngứa rất nhiều).

Bài thuốc có chàm mèo

1. Chữa viêm lợi răng, chảy máu chân răng:

Thanh đại 80g, phèn chua 40g, hùng hoàng 2g, mai hoa băng phiến 2g. Tất cả tán bột, trộn đều, đựng trong lọ kín. Trước khi dùng, rửa sạch răng miệng bằng nước muối hav nước oxy già, rồi bôi thuốc vào những chỗ lợi bị viêm nhiễm. Ngậm giữ thuốc độ 15 - 20 phút rồi nhổ đi, súc miệng. Ngày bôi 2-3 lần, sau bữa ăn. Thường sau 5 đến 7 ngày có kết quả.

2. Chữa viêm hạnh nhân, viêm họng:

Thanh đại 5g, hàn the 5g, tây ngưu hoàng lg, mai hoa băng phiến 0,5g. Tất cả tán bột, trộn đều, khi dùng súc miệng sạch, bôi vào chỗ sưng đau.

3. Chữa cam tẩu mã:

Thanh đại 20g, hoàng bá 12g, hoàng liên 16g, đinh hương 12g, đại hồi 4g, nhân trung bạch 20g, phèn chua 12g. Các vị hoàng liên, hoàng bá, đinh hương, đại hồi sấy khô, tán nhỏ rỗi trộn với nhân trung bạch, phèn chua và thanh đại. Nếu bệnh nặng cần thêm lg xạ hương (vì xạ hương chóng bay hơi nên chỉ trộn vào trước khi dùng). Lấy bông thấm nước muối rửa sạch máu mủ chỗ răng lợi bị đau, rồi đắp thuốc đầy vào chỗ răng lợi bị thủng. Người lớn ngày đắp thuốc 3-4 lần, cách 3 giờ thay thuốc một lần. Trẻ con trước khi đi ngủ đắp thuốc một lần, ban đêm dậy đắp thuốc lần nữa.

4. Chữa rong kinh:

Dùng viên thanh đại chứa 0,25g cao khô lá chàm mèo. Mỗi ngày uống 10 viên chia 2 lần. Uống từ thời điểm 5 ngày trước lúc bắt đầu có kinh nguyệt và uống liên tục 10 ngày. Uống nhắc lại như vậy vào tháng thứ 2, thứ 3 hoặc lâu hơn, cho tới khi kinh nguyệt trở lại bình thường thì ngừng uống thuốc. Nếu tiếp tục uống kéo dài, kinh nguyệt có thể bị chậm lại quá mức bình thường.

Chàm Mèo 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC