Vị thuốc vần C

Chanh Trường

08:45 20/05/2017

Tên khác: Cà xoắn, mác đíp (Tày).

Họ: Cà (Solanaceae).

Mô tả

Cây nhỏ, cao 0,5 - lm. Thân hơi dẹt, đôi khi hóa gỗ ở gốc, nhẵn bóng. Lá mọc so le, hình mác hoặc hình quả trám, gốc có phiến kéo dài đến tận cuống, đầu thuôn nhọn, mép nguyên, uốn lượn, hai mặt nhẵn; cuống lá dài 2-3 cm.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùm; hoa nhỏ màu trắng; đài hình chuông hoặc hình đấu, có 5 răng xẻ đến phần giữa ống; tràng 5 cánh nhọn, nhẵn; nhị 5, mở bằng đường nứt ngang.

Quả mọng, hình cầu, nhẵn bóng, khi chín màu vàng nhạt; hạt nhiều, có góc.

Mùa hoa: tháng 7 - 9, mùa quả: tháng 10-2.

Chanh trường và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chanh trường có nguồn gốc ở châu Mỹ, phân bố rộng rãi ở một số vùng cận nhiệt đới hoặc nhiệt đới châu Á, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Lào và Việt Nam... Ở Việt Nam, chanh trường thường gặp ở các tỉnh miền núi phía bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình. Có tài liệu ghi có cả ở tỉnh Khánh Hòa (Võ Văn Chi). Cây còn được trồng rải rác lấy lá non làm rau ở vườn nhà xã Vĩnh Yên (huyện Nà Hang - Tuyên Quang); thị trấn Đồng Văn (Hà Giang); xã Bản Khoang (Sa Pa - Lào Cai)... Chanh trường là cây thảo, thường mọc trên đất ẩm ở bờ rào vườn, trên các bãi hoang quanh làng ven đường đi hoặc nương rẫy . Cây ưa sáng hoặc có thể hơi chịu bóng, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng mạnh từ 20 đến 25°c. Về mùa đông, khi nhiệt độ xuống dưới 20°c, cây đã hoàn thành giai đoạn ra hoa quả và tàn lụi. Chanh trường được nhân giống tự nhiên bằng hạt, cây con được thấy vào khoảng tháng 4-5. Vào thời kỳ sinh trưỏng mạnh, nếu bị ngắt ngọn, cây sẽ nhanh chóng tái sinh lứa chồi mới.

​Bộ phận dùng

Lá và rễ thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi, sấy khô.

Thành phần hóa học

Lá chanh trường chứa 1,29% alcaloid (The Wealth of India vol. IX, 1972, 393).

Theo Lê Thị Quyên, Nguyễn Hữu Khôi và Nguyễn Ngọc Sương, lá có tomatidenol; 15a hydroxy tomatiđenol.

Rễ chứa các glucoalcaloid, etiolin (CA. 1960 54 1807 b; CA. 1987, 107 130940 v)

Ngoài ra, còn có solaspữalidin (I) và một glucosid đã được Ripperger, Helmut phân lập và xác định cấu trúc là: (20R 25s) - 23 - 26 - epimino - 3p - 16a đihydroxy - cholesta - 5, (23) (N) dien. 22 on và 3 - o - (P - D - glucopyranosyl) etiolin [(25 S) - 22 - 26 - epimio - 3 p - (P - D - gluco pyranosyl oxy) cholesta - 3,22 (N) dien - 16cc. ol] (Phytochemistry 1996, 43 (3) 705 - 707; CA. 125, 1996, 243147 g)

Tác dụng dược lý

Theo tài liệu nước ngoài (Ấn Độ), rễ cây chanh trường có tác dụng gây mê, gây ngủ và lợi tiểu.

Tính vị, công năng

Chanh trường có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp, kiện vị.

Công dụng

Nhân dân Việt Nam dùng lá chanh trường chữa đau bụng, chướng bụng, phù thũng. Ngày dùng 6 - 12g lá khô dưới dạng thuốc sắc. Rễ được dùng chữa kinh nguyệt không đều với liều 10 - 12g/ngày, sắc nước uống.

Ở Trung Quốc, chanh trường chữa tiêu chảy, xích lỵ, tiểu tiện dau, sốt rét, cảm mạo, đau họng, mụn nhọt, sưng tấy. Ngày 9 - 15g toàn cây, sắc nước uống. Dùng ngoài, giã nát dắp tại chỗ.

Quả chanh trường ăn được, dùng làm gia vị.

Chanh Trường 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC