Vị thuốc vần C

Chút Chít Nhăn

10:50 06/07/2017

Chút Chít Nhăn có tên khác: Chân dê, dương đề nhăn.

Họ: Rau răm (Polygonaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống dai, cao 0,4 - 1 m. Rễ mập hình trụ, có khía dọc, ăn sâu xuống đất, màu nâu, đôi khi phân nhánh, rễ nhỏ rất nhiều, hình sợi.

Thân thẳng, cành ngắn. Lá mọc so le, có cuống dài, hình thuôn - mũi mác, gốc có bẹ. đầu nhọn hoặc tù, mép uốn lượn, những lá phía dưới có gốc bằng hoặc hình tim, những lá giữa thắt lại ở hai đầu, những lá phía trên nhỏ, hinh dài hẹp, gân lá rộp lên thành mạng lưới.

Cụm hoa mọc ở đầu cành và ngọn thân thành chuỳ mang những lá nhỏ suốt chiều dài của chuỳ; hoa màu vàng lục xếp thành nhiều vòng rất sít nhau, bao hoa cỏ 6 mành xếp thành hai vòng, những mảnh ở vòng trong có 1 - 2 ráng dài ở mỗi bên mép; nhị 6, đính ở gốc của bao hoa; bầu thượng có 3 cạnh. Quả hình 3 cạnh nằm trong bao hoa tồn tại như những chiếc cánh mỏng.

Phân bố, sinh thái

Chi Rumex L. trên thế giới có khoảng 200 loài, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ấm bắc bán cầu, song cũng có nhiều loài phân bố xuống vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới; có loài còn được trồng làm rau ăn.

Ở Việt Nam, trong số 7 loài đã biết, có tới 6 loài dùng làm thuốc ở các mức độ khác nhau. Chúng phân bổ rải rác từ vùng núi xuống đồng bằng, trong đó loài chút chít nhăn phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng Bẳc Bộ, bao gồm ngoại thành Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Ninh Bình...

Chút chít nhăn là cây ưa ẩm, ưa sáng, sống 1 hoặc nhiều năm. Cây thường mọc ở bờ mương nước, bãi sông, bờ ao hay là ở nơi đất ngập nước nhưng khô vào mùa đông và mùa xuân. Cây mọc từ hạt xuất hiện vào gần cuối mùa đông, sinh trưởng mạnh trong mùa xuân, sau đó ra hoa quả và có thể tàn lụi vào đầu mùa hè. Trong số các loài thuộc chi Rumex L. dùng làm thuốc ờ Việt Nam, có lẽ đây là loài có củ lớn nhất. Vi thế những người đi thu mua cũng thường đặt hàng loài này để khai thác.

Bộ phận dùng

Rễ (củ).

Tác dụng dược lý

1. Tác dụng kháng khuẩn

Đã nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của 6 loại cao của cây chút chít nhăn: cao chiết từ hạt và từ lá bằng ether, bằng ethanol và bằng cách chiết với nước nóng trên Staphylococcus aureus và Bacillus subtUis. Kết quả cho thấy, cao ether của cả hạt, của lá cũng như cao ethanol của lá có tác dụng ức chế sự phát triển của cả hai vi khuẩn trên: còn cao chiết nước nóng của cả hạt, cả lá đều không có tác dụng ( Yildirim et al.. 2001 ).

2. Tác dụng chống oxy hoá và quét dọn gốc tự do

Đã nghiên cứu tác dụng chống oxy hoá (khả năng khử) và quét dọn gốc tự do DPPH (2,2 - diphenyl - 1 - picrylhydrazyl) của hợp chất phenol tổng số và 6 cao của chút chít nhăn: cao ether của hạt (1) và lá (2): cao ethanol cùa hạt (3) và lá (4) và cao chiết nước nóng của hạt (5) và lá (6) cây chút chít nhăn. Tác dụng chống oxy hoá dựa vào nhũ dịch acid linoleic (acid mạch thẳng có 18 c và 2 nối đôi ở C9 và C12) trong nước sẽ sinh ra peroxyd (lipoperoxyd).

Thuốc có tác dụng chống oxy hoá sẽ ức chế tạo thành peroxyd.

Nghiên cứu tác dụng quét dọn gốc tự do DPPH dựa vào tính chất DPPH trong methanol hoặc ethanol sẽ tạo thành gốc tự do bền, định lượng được bằng cách đo mật độ quang học (ở bước sóng 517nm). Nếu chất có tác dụng dọn gốc tự do thì DPPH giàm đi và mật độ quang sẽ giàm.

Kết quả:

a) Tác dụng chống oxy hoá của tất cả 6 cao đều tăng khi nồng độ của các cao tăng trong phạm vi nồng độ 50 - 150|ag/ml;

b) Cao nước của lá (cao 6) và của hạt (cao 5) cho tác dụng chống oxy hoá mạnh nhất;

c) Cao nước của lá (6) và hạt (5) nồng độ 75µg/ml ức chế sự tạo thành peroxyd theo thứ tự là 96% và 94%;

d) Tác dụng chống oxy hoá cao ethanol cùa hạt (3) thấp hơn cao nước (5), nhưng sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05);

e) Cao ether của hạt (1) ở nồng độ 75µg/ml không có tác dụng chống oxy hoá có ý nghĩa so với lô đối chứng không dùng thuốc (p > 0,05);

g) Cao ethanol của hạt (3) có hàm lượng flavonoid tổng số cao nhất, còn cao ether của hạt (1) có hàm lượng fiavonoid tổng sổ thấp nhất;

h) Tác dụng chống oxy hoá của cao ethanol (3) của hạt bằng khoảng 40% tác dụng cùa acid ascorbic;

i) Cao ethanol cùa hạt (3) có tác dụng dọn gốc tự do DPPH mạnh nhất, sau đó là đến cao nước của hạt (5);

k) Cao nước của hạt (5) và cao ethanol của hạt (3) ở nồng độ 400ng/ml có tác dụng quét dọn gốc DPPH theo thứ tự là 85% và 90%.

Kết luận:

Có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa hàm lượng cùa hợp chất phenol và tác dụng chống oxy hoá (hoặc khả năng khử) (với r = 0,99; p < 0,01), cũng như giữa hàm lượng của hợp chất phenol và tác dụng quét dọn gốc tự do DPPH (với r = 0,864; p < 0,05). Qua phân tích cũng thấy rõ có mối tương quan giữa tác dụng chống oxy hoá và tác dụng quét dọn gốc tự do DPPH (với r = 0,892; p < 0,05) (Yildirim et al 2001).

3. Tác dụng trên ung thư

Cấy vào cơ đùi chuột nhắt trắng tế bào u Sarcom - 37. Sau 6 ngày tiêm dưới da dịch chiết ethanol của rễ chút chít nhăn. Sau 24 giờ (6 - 48 giờ), bóc tách mô u đã cấy và xét nghiệm, thấy thuốc có gây tổn thương mô u [Chang Minyi 1992:71].

4. Tác dụng nhuận tràng

Chút chít nhăn có dẫn chất anthraquinon như oxymethylanthraquinon (0,2%) và emodin (0,1%) trong rễ; rumicin, physcion, chrysophanol, emodin, aloe - emodin, rhein và các glycosid cùa chúng ở các bộ phận trên mặt đất cùa cây. Các chất có anthraquinon có tác dụng nhuận tràng. Nguyên nhân là do ở ruột già, vi khuẩn thuỳ phân các glycosid và khử anthraquinon thành anthron. Anthron có tác dụng trực tiếp trên ruột già, kích thích nhu động ruột nên gây ra nhuận tràng [Van Valkenburg et al., 2001, vol. 2: 480].

5. Tác dụng gây nhiễm độc oxalat

Cừu cái trưởng thành nhốt trong một vườn trồng chút chít nhăn để cho cừu ăn. Sau 40 giờ, nhiều cừu bị nhiễm độc do ăn chút chít nhăn mà biểu hiện là nhiễm độc oxalat. Các biểu hiện lâm sàng là nhớt dãi đầm đìa, run, mất điều hoà vận động, nằm một chỗ. Các biếu hiện khác là hạ calci huyết, tăng urea huyết, phù quanh thận và thoái hoả ống thận, nhận thấy rất rõ sau ngày thứ 3 nhiễm độc. Mẫu chút chít nhăn đã được định lượng acid oxalic và thấy hàm lượng acid oxalic lên đến 6,6 - 11.1% so với khối lượng cây khô (Panciera et al 1990).

Tính vị, công năng

Rễ chút chít nhăn vị đắng tính hàn; có công năng thanh nhiệt, thông tiểu, nhuận tràng, sát trùng. Ở Trung Ọuốc, sách "Thảo mộc tiện phương" và sách "Đông Bắc thường dụng Trung thảo dược thủ sách" đều ghi: vị đắng, tính hàn. Còn sách "Thiểm Cam Ninh Thanh Trung thảo dược tuyển" ghi: chút chít nhăn vị đắng, chua, tính hàn, có độc ít. Về qui kinh, rễ chút chít nhăn nhập vào các kinh tâm, can và đại tràng. Sách "Cao nguyên Trung thào dược trị liệu thù sách" cũng ghi qui kinh như trên. Nhưng sách "Màn Đông bản thảo" lại ghi nhập cả kinh tỳ.

Rễ chút chít nhăn có công năng thanh nhiệt, lương huyết, chi khái, hoá đàm, thông tiện, sát trùng [TDTH, 1993, tập 1: 1037], Lá chút chít nhăn có công năng thanh nhịêt giải độc. thông lợi đại tiện được dùng trị táo bón [TDTH, 1993, tập 1: 1038], và rễ chút chít nhăn có công năng thông huyết mạch, phục hồi sức sống và sức mạnh [Chang Minyi, 1992: 71].

Công dụng

Rễ chút chít nhăn được dùng để điều trị thiếu máu, ho lao, viêm gan, vàng da, thấp khớp mạn tính, đái tháo đường. Ngày dùng 15 - 20g sắc lấy nước uống. Có thể nghiền rễ thành bột mịn, uống mỗi lần 1 - 2g, ngày 2-3 lần, nhưng đắng khó uống. Thường nghiền thành bột mịn, chiêu với mật hoặc mật ong làm thành viên, mỗi viên 0,5g, phơi khô. Khi cần, uống mỗi lần 2 - 4 viên vào bữa ăn, ngày 2-3 lần.

Dùng ngoài, để trị bệnh ngoài da như hắc lào, nấm tóc. eczema, lở loét, nhọt bọc, lấy rễ tươi giã nát đắp lên chỗ da bị bệnh. Rễ khô, tán thành bột mịn, chiêu với nước, rồi đắp lên. Để trị hạch đới, nấu nước rồi xông.

Ở một số nước Âu Mỹ, rễ chút chít nhăn được coi là thuốc bổ chống thiếu máu và đề lọc máu, chữa bệnh gan, đau họng. Dùng ngoài chữa viêm da mạn tính, sưng hạch lympho, đau sưng khớp, thấp khớp. Rễ chút chít nhăn nói chung là gây nhuận tràng (do có anthraquinon), nhưng tuỳ theo thời gian thu hái, liều dùng và hàm lượng tanin, nếu tanin nhiều lại có tác dụng chống ỉa chảy [Foster và Duke, 2000: 243], Ở Indonesia, toàn cây chút chít nhăn được dùng để nhuận tràng, chữa sốt và gây trung tiện [Med. herb index, 1995: 33].

Ở Đài Loan (Trung Quốc) rễ chút chít nhăn được dùng trong bình tắm hơi để chữa đau mắt, lở loét ngoài da. Dùng trong, sắc uống để hạ sốt, nhuận tràng và gây trung tiện.

Ở Ấn Độ, rễ chút chít nhăn được dùng làm thuốc bổ đắng, chữa khó tiêu và có tác dụng an thần như đại hoàng và thổ phục linh, được dùng khi bị sưng hạch lympho hoặc các hệ tuyến khác, để chữa giang mai, bệnh gan; có tác dụng nhuận tràng vừa phải, nhưng lại săn se. Hạt chút chít nhăn cũng được dùng làm thuốc bổ đắng, kích thích ăn uống, được dùng khi bị lỵ mạn tính, chống buồn nôn [Nadkarni, 1999: 1079], Ở Trung Quốc, toàn cây chút chít nhăn được dùng làm thuốc hạ sốt, tẩy giun, loại bỏ được mù và các chất độc, được dùng trị bệnh nấm da đầu, nhọt ở móng và nhọt độc.

Rễ chút chít nhăn để hạ sốt, làm mát máu, giãn cơ trơn ruột, được chi định trong điều trị viêm gan cấp, vô kinh, đau căng bụng. Chống chỉ định trong điều trị ỉa chảy do suy tụy. Mới đây được dùng chữa trong một số dạng ung thư.

a) Chữa ung thư da: Rễ chút chít nhăn, nấu thành cao với nước, dùng bằng gạc, nhũng vào cao đặc rồi đắp xung quanh chỗ tổn thương đa. và thay băng thường xuyên.

b) Chữa bệnh bạch cầu cấp: Dùng 30 - 60g rễ, sắc uống mỗi ngày. Dùng luôn nhiều ngày.

c) Bài thuốc chĩra bệnh bạch cầu cấp: Rễ chút chít nhăn 60g: toàn cây vấn vương 60g. còn 2 vị chưa thấy ờ Việt Nam là Radix Amebiae 60g, và Cortex Moutan 9g. sắc uống ngày 1 thang, uống nhiều ngày liền [Chang Minyi, 1992: 71].

Chút Chít Nhăn 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC