Vị thuốc vần C

Cọ Xẻ

09:53 01/06/2017

Livistona chinensis (Jacq.) R. Br.

Tên đồng nghĩa: Latania chinensis Jacq.

Tên khác: Lá nón xẻ, mật cật, ké tàu.

Tên nước ngoài: Fan - palin (Anh), latanierde Chine (Pháp).

Họ: Cau (Arecaceae).

Mô tả

Cây gỗ, cao 8 - 10m. Thân hình trụ, mọc thẳng do những sẹo của cuống lá để lại hình thành. Lá mọc tập trung ở ngọn thân, hình quạt chia nhiều thuỳ hẹp đầu nhọn, hai mặt nhẵn, màu lục bóng ở mặt trên; cuống lá to, dài, có gai dẹt và cong.

Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành chuỳ phân nhánh 2-3 lần, bên ngoài có mo lớn bao bọc; hoa hình cầu, có 3 lá đài xếp lợp, 3 cánh hoa xếp hình van; 6 nhị, chỉ nhị ngắn; bầu hình bầu dục, mỗi ô có 1 noãn.

Quả hình bầu dục thuôn, tròn ở hai đầu, dài 2 cm, rộng 1,5 cm, màu lục nhạt, có bao hoa tồn tại; hạt hình trái xoan, đầu tù.

Mùa hoa: tháng 2-4; mùa quả: tháng 5-6.

Phân bố, sinh thái

Chi Livistona R. Br. hiện đã biết ở Việt Nam 4 loài, trong đó có loài cọ xẻ kể trên. Cọ xẻ được trồng rải rác tại một số tỉnh miền núi thấp và trung du phía bắc như: Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Hà Giang, Thanh Hoá và Nghệ An. Tuy vậy hiện không biết rõ về nguồn gốc, bởi loài cây này cũng thấy mọc tự nhiên và được trồng lâu đời ở nước ta. Trên thế giới, cọ xẻ cũng có ở Trung Quốc và Ấn Độ. Cọ xẻ là ây ưa sáng, có thể sống được trên nhiều loại đất. Tại các địa phưong kể trên, thấy cây trồng ở vườn, nương rẫy và thậm chí ở các bờ ruộng nước cây vẫn sinh trưởng phát triển được. Theo kinh nghiệm của nhân dân ở Tuyên Quang, cọ xẻ được gieo bằng hạt, sau 2 năm ở vườn ươm mới đánh đi trồng. Loài cây trồng này có nhiều công dụng, như làm chổi quét, đan lát (lá và cuống lá), thân cây cọ già được dùng nhiều trong xây dựng, với độ bền chắc cao.

Cách trồng

Cọ xẻ thường được trồng ở đồi hoặc trồng làm cây cảnh ở ven đường, các công viên, ở các nơi công cộng. Ngoài ra người ta còn trồng ở bờ ruộng, bờ ao, góc vườn. Cọ xẻ là cây không kén đất, dễ trồng, ít phải chăm sóc, ít có sâu bệnh hại. Cọ nhân giống bằng hạt. Một cây cọ có khả năng cho rất nhiều hạt. Khi cọ chín lấy hạt đem gieo góc vườn hoặc ở vườn ươm. Thời gian gieo vào tháng 10-12. Cây con có 3 - 4 lá thật có thể đánh đem ra trồng. Trồng cọ chỉ cần đào thành hố, bón lót phân chuồng mục, khoảng cách trồng 3 - 4m một cây. Thời gian trồng tốt nhất vào mùa xuân. Trồng cọ xẻ ít phải chăm sóc, ngoại trừ việc xới đất làm cỏ quanh gốc cây. Cây sinh trưởng chậm, nhưng khả năng chịu hạn và chịu lạnh khá tốt.

Bộ phận dùng

Hạt, rễ và lá.

Thành phần hoá học

Cây thường được trồng làm cảnh, hạt làm mát máu cầm máu. Ở Trung Quốc dùng chữa ung thư họng, ung thư máu (Phạm Hoàng Hộ, 2006). Hạt chứa các triglycerid [CA, 1970; Trung Dược đại từ điển, 1997].

Đầu năm 2011, Giang Thị Kim Liên và cs đã phân lập được 4 hợp chất gồm Tricin, salicin, stigmasterol glucosid và Sacharose. Maure. M. (Brasil) đã phân lập và xác định cấu trúc một betaxylan (polysacharid) có nhiều nhóm chế từ nhựa quả. Tao Yuan và cs đã phân lập và xác định cấu trúc 14 hợp chất trong quả bao gôm bằng 2 depsiđon, một benzopuran 3 stilben, 4 steroid, 3 flavan - 3 - ol và 1 alcaloid. Trong khi đó Xiaobin và cs phân lập được 11 hợp chất fiavonoid, trong đó có 3 hợp chất mới.

Tác dụng dược lý

1. Tác dụng ức chế phát triển tế bào II

Cao chiết bằng nước nóng quả khô của cây cọ xẻ đã được sử dụng trong y học dân gian nam Trung Quốc để điều trị các loại u khác nhau. Những nghiên cứu in vitro cho thấy, cao chiết bằng ethanol và cao chiết bằng nước nóng của cọ xẻ ức chế sự phát triển dòng tế bào HL - 60 (HL - 60 là dòng tế bào bạch cầu của người mắc bệnh đa bạch cầu tiền tuỷ bào cấp: acute promyelocytic leukaemia) với nồng độ tối thiểu ức chế 50% (IC50) của mỗi cao đều là 1/50 (20 mg/ml) (Cheung et al., 2005).

Cao ethanol có tác dụng gây biệt hoá dòng tế bào HL - 60 thành tế bào hạt. Ở nồng độ 1/100 (10 mg/ml) và 1/200 (5 mg/ml), số tể bào HL - 60 chuyển thành bạch cầu đơn nhân và đại thực bào theo thứ tự là 32,4 ± 12,6% và 16,3 ± 6,1% so vói ỏ' lô chứng chỉ có 4,4 ± 1,3%. Ngược lại, cao chiết nước nóng lại không có khả năng gây biệt hoá có ý nghĩa dòng tế bào HL - 60 (Cheung et al., 2005).

Đã nghiên cứu hoạt tính dọn gốc tự do hydroxyl so sánh với Trolox (một chất chống oxy hoá tham chiểu) trong dung dịch không có tế bào, thấy ở độ pha loãng 1/10, cao methanol và cao nước nóng có hoạt tính tương tự nhau và lần lượt bằng 13,0 và 12,7 micromol hoạt tính của Trolox. Ờ nồng độ 1/100, cà cao ethanol và cao nước đều không cỏ ảnh hưởng đến sự sản sinh ra nitric oxyd (NO) ở các tế bào dòng RAW - 264.7 dù có dùng hoặc không dùng lipopolysaccharid để kích thích (Cheung et al., 2005). Phân tích dùng phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR: polymerase chain reaction) của RNA thông tin (mRNA) chỉ rằng, dòng tế bào RAW - 264.7 được xử lý với cả hai cao ở độ pha loãng 1/100 đều không có ảnh hưởng đến yếu tố hoại tử u - alpha [TNF - alpha: tumor necrosis factor - alpha); interleukin - 1 beta (IL - ] beta); sự tổng hợp nitric oxyd (NO) và cyclo - oxygenase - 2 (COX - 2) trong các tế bào này khi so sánh với lô đối chứng, không dùng cao cọ xẻ. Không có cao nào ảnh hưởng đến TNF - alpha và sự tổng hợp NO trong các tế bào được kích thích bằng lipopolysaccharid (LPS). Nhưng ở nồng độ pha loãng 1/100, cả hai loại cao đều làm giảm IL - 1 beta trong các tế bào được kích thích bằng LPS có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Chỉ có cao methanol ở độ pha loãng 1/100 là làm giảm cox - 2 trong dòng tể bào RAW - 264.7 được kích thích bằng LPS (P < 0,01) (Cheung et al., 2005).

2. Tác dụng ức chế sự tạo mạch và sự phát triển ung thư

Trong khi sàng lọc các chất ức chế sự tạo mạch máu có trong tự nhiên đã xác định được cao từ hạt của cây cọ xẻ có tác dụng chống tạo mạch và chông ung thư mạnh. Cao nước ức chế in vitro sự tăng sinh tế bào nội mô và sự nhân lên của dòng tế bào u như dòng tế bào sarcom sợi (fibrosarcoma) của chuột nhắt trắng, cũng như dòng tế bào ung thư vú và ung thư đại tràng ở người.

Trong thí nghiệm ở chuột nhắt trắng, cao nước cọ xẻ ức chế sự phát triển của u sarcom sợi được cấy dưới da chuột. Nghiên cứu riêng hai phần vỏ hạt và nhân hạt, thấy vỏ hạt có tác dụng mạnh hơn nhân hạt trong thí nghiệm ức chế u. Như vậy là cao vỏ hạt của cọ xẻ có thể là một nguồn để dùng trong điều trị ung thư (Sarrtippour et al., 2001).

3. Cơ chế tác dụng chống ung thư của cọ xẻ

Hoạt động bất thường của protein - kinase (PK - ase) là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra ung thư. Vì vậy Huang và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng ức chế PK - ase và tác dụng chống u của cao ethanol chiết từ hạt cây cọ xẻ, một vị thuốc cổ truyền vẫn được dùng để điều trị ung thư mũi hầu. Hạt cọ xẻ được chiết bằng ethanol, sau đó dùng sắc ký để tách ra được một phân đoạn có độ tinh khiết cao được gọi là LC - X (phân đoạn chiết xuất đã tinh chế của hạt cọ xẻ Livistona chinensis) (Huang et al., 2006).

Nghiên cứu tác dụng sinh học in vitro đã phát hiện thấy LC - X ức chế được hoạt tính của nhiều protein - kinase khác nhau như PAK2, PKA, PKC, GSK - 3 alpha, CK.2; ức chế cả protein - kinase hoạt hoá sự phân bào (mAPK: mitogen - activated protein - kinase) và JNK1 với nồng độ tối thiểu ức chế 50% (IC50) trong khoảng 1 - 40ug/ml. Sự tăng sinh của hai dòng tế bào ung thư mũi hầu NPC - TW02 và NPC - TW04 cũng như dòng tế bào ung thư vú MCF - 7 bị LC - X phong bế có ý nghĩa thống kê ở nồng độ 50ug/m 1 ; còn các dòng tế bào u biểu bì (A431) và tế bào ung thư cổ tử cung (HeLa) lại không bị ức chế.

Đối với các dòng tế bào bị LC - X tác động, chu kỳ tế bào dừng ở giai đoạn G2 (thời kỳ tiền gián phân) sang giai đoạn M (thời kỳ gián phân) và sự chết tế bào theo chương trình (apoptosis) thấy rõ ở các tế bào NPC - TW02 khi xử lý với LC - X trong 24 giờ.

Những nghiên cứu tiếp theo đã phát hiện thấy LC - X ức chế mạnh sự hoạt hoá thụ thể của yếu tố phát triển biểu mô (EGFR: epidermal growth factor receptor) và ức chế hoạt tính của mAPK (protein - kinase hoạt hoá sự phân bào) ở cả hai dòng tế bào ung thư mũi hầu là NPC - TW02 và tế bào ung thư biểu bì là A431. Tác dụng này phụ thuộc vào nồng độ tức là nồng độ l.c - X càng cao thì tác dụng ức chế càng mạnh trong phạm vi các nồng độ đã thử (Huang et al., 2006).

Lý thú hơn là hàm lượng protein của EGFR (thụ thể của yếu tố phát triển biểu bì) lại giảm một cách thảm hại ở các dòng tế vào A431 và NPC - TW02 ở lô dùng LC - X so với không dùng LC - X. Phân tích ỹ hơn ở màng tương và dịch bào tương của dòng tế bào A - 43 1 ở lô có và không có LC - X chỉ rằng, protein 170 KDa mất đi ở màng tương của dòng tế bào A - 43 1 có xử lý với LC - X. Protein này được xác định chính là EGFR (thụ thể của yếu tố phát triển biểu bì) nhờ phương pháp phổ khối. Do đó, đích tác động chọn lọc của LC - X chính là thụ thể EGFR này. Ngoài ra, khi điện di, sự dịch chuyển của thụ thể EGFR khác hẳn với sau khi đã xử lý với LC - X. Điều đó chứng tỏ LC - X đã tác động vào thụ thể EGFR làm thay đổi thụ thể này về mặt hoá học (Huang et al., 2006).

Như vậy, hoạt chất trong cọ xẻ có hoạt tính ức chế li và ức chế protein - kinase là do ức chế yếu tố phát triển biểu mô thông qua việc làm thay đổi thụ thể EGFR. Sự phong bế chức năng của thụ thể EGFR có thể là cơ chế tác dụng chống u của hoạt chất trong cọ xẻ (Huang et al., 2006).

4. Độc tính

Đã xác định đưọc cao lá cọ xê có LD50 là 750 mg/kg ở chuột nhắt trắng dùng đường tiêm phúc mạc. Cao lá cọ xè có được bằng cách lấy lá cọ xẻ phơi khô, tán thành bột thô, chiết bằng etthanol 50%, rồi cô dưới áp lực giảm đến thể chất cao khô [Dhawan et al., 1980, IX: 594],

Tính vị, công năng

Cọ xẻ vị ngọt, chát, tính bình. Hạt còn có vị hơi béo, có công năng làm tiêu ung thư; rễ giảm đau. Sách của Trung Quốc [Chang, 1992: 255] và "Sổ tay thường dụng trung thảo dược" cũng đều ghi: cọ xẻ vị ngọt, chát, tính bình; hạt có công năng kháng nham (chống ung thư), rễ chỉ thống (giảm đau) [TDTH, 1997JII: 1 107]. 

Công dụng

Hạt cọ xẻ được dùng chữa ung thư mũi, họng, thực quản, ung thư rau, bệnh đa bạch cầu (leukemia). Dùng cả hạt sắc kỹ 6 - 10g rồi uống hoặc 30 - 60g nung tồn tính rồi sắc uống. Rễ được dùng để trị hen suyễn và làm dịu đau. Lá được dùng trị chảy máu tử cung, ngày dùng 15 - 30g cả lá, cả cuống lá, chặt nhỏ, sao đen tồn tính rồi sắc với nước uống.

Quả cọ xẻ nếu đun nước sôi thì thịt quả sần cứng, không ăn được. Để có thể ăn được, lấy nước nóng già (khoảng 70°C) cho quả cọ vào, đậy nắp, ngâm như vậy độ nửa giờ, rồi vớt ra ăn (như cách chần quả trám) ngon và bùi. Cũng có thể muối ăn dần như quả cà.

Ở Trung Quốc, ngoài chữa ung thư (xem các bài thuốc ở dưới) hạt cọ xẻ còn được dùng khi bị ứ huyết và điều trị khi có khối rắn ở bụng. Lá và cuống lá đốt cháy tồn tính thành than, tán nhỏ, uống với nước hoặc rang cháy lên rồi sắc uống để chữa băng huyết [Chang, 1992: 255].

Bài thuốc có cọ xẻ

1. Chữa ung thư mũi, họng, thanh quản, thực quản

Hạt cọ xẻ 60g sắc kỹ (2 giờ) uống, ngày một thang chia làm nhiều lần uống trong ngày. Thường thêm 30 - 90g thịt lợn nạc, cũng nấu kỹ khoảng 2 giờ, rồi ăn như thực phẩm ngày 1 lần, uống cả nước. Có thể dùng cùi quà cọ xả 40g, nâu với 40g thịt lợn nạc rồi ăn. Chú ý là hoạt chất có nhiều nhất là ở vỏ hạt [Chang, 1992: 255],

2. Chữa chửa trứng (malignant hydatidiform mole) và bệnh đa bạch cầu (leukemia)

Hạt cọ xẻ 30g, táo tầu 6 quả. sắc kỹ, chia làm 2 lần uống trong ngày, mỗi đợt điều trị 20 ngày [Chang, 1992: 255],

3. Chữa ung thư phổi

Hạt cọ xẻ 60s, hoàng cầm râu (Scutellaria burbata) toàn cây 60g, sắc uống, ngày một thang [Chang, 1992: 256],

4. Chữa các loại ung thư

Hạt cọ xẻ 30g, thịt lợn nạc 30g, ninh kỹ, ăn cả cái cả nước như thực phẩm, ngày một lần, dùng nhiều ngày [Chang, 1992: 256],

Cọ Xẻ 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC