Vị thuốc vần C

Cúc áo

09:05 08/05/2017

Còn gọi là cây hoa cúc áo , ngổ áo , nụ áo lớn, phát khát

tên khoa học là spilanthes acmella L.Murr..

Thuộc họ Cúc Asteraceae (Compositae).

A. Mô tả cây

Cây cúc áo là một loại cây nhỏ, cao chừng 0,40 đến 0,70m. Lá hình trứng thon dài hoặc hình trứng, mép có răng cưa to hay hơi lượn sóng, phiến lá dài 3-7cm, rộng l-3cm. Cụm hoa hình đầu, mọc ở đầu cành, hơi hình nón, màu vàng, dài 10-15mm. Quả bế màu nâu, mép có gờ, màu nhạt, dài 2-8mm, dẹt

Cúc áo và tác dụng chữa bệnh của nớ

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây cúc áo hiện mçc hoang ờ khắp các nơi đất ẩm ở nước ta. Chư? được trồng; CÒI> mọc ờ các nước khác như Lào, Cămpuchia, Philipin, Miến Điện, Malaixia, Ân Độ. Người ta cho rằng cây này nguồn gốc ở Nam Mỹ. Toàn cây có vị cay tô, cây mọc hoang cay tê hơn cây trổng. Đậc biệt cụm hoa có vị rất cay, tê nóng, gây chảy nước dãi rất nhiều. Thường người ta dùng hoa tự hái vào mùa hè và thu. Có nơi dùng toàn câv. Dùng tươi hay phơi khô.

c. Thành phần hoá học

Trong cụm hoa cũng như trong toàn cây có chứa một tinh dầu mùi cay hăng. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là chất spilanten C15H3Ũ (một chất tecpen đặc biệt) và một chất rượu gọi là spilantola C37H64N20. Từ 5kg cụm hoa, các tác giả Nhật Bản, Ý Asahina và M. Asens (Năm 1920), đã lấy ra được 50g spilantola thô. Chất này tác dụng với axit clohydric cho một bazơ gọi là isobutylamin có công thức C4HUN. Hydrô hoá, spilantola sẽ cho hydrospilantola. Dưới tác dụng của hơi axit clohydric ép, hydrospilantola cho isobutylamin và một hỗn hợp axit béo: axit dexylic C]0H20O2 và axit nonylic C9H18O2.

D. Công dụng và liều dùng

Trong nhân dân, công dụng phổ biến nhất là dùng cụm hoa giã nhỏ, ngâm rượu để ngậm khi bị nhức răng, sâu răng, thuốc sẽ làm đỡ đau, có nơi đã dùng thay thuốc tê để nhổ răng. Có nơi còn dùng lá giã đắp trên mi mắt bị sưng đau. Cây này còn được nhiều nước dùng làm thuốc: Như ở Malaixia người ta sắc lá này đắp lên đầu chữa bệnh nhức đầu. Tại Ân Độ người ta dùng cây này chữa nhức đầu, các bệnh ở cổ họng và răng lợi. Theo Tavera, tại Philipin, người ta dùng rễ làm thuốc tẩy với liẻu 4 đến 8g, sắc với một bát nước. Nước sắc lá còn dùng để rửa những nơi lở ghẻ, mẩn ngứa. Cũng tại Philipin, theo Tavera người ta đùng uống trong để làm thuốc thông tiểu tiện và có khả năng tiêu được sỏi thận. Nước ép của lá hay nước sắc của lá có thổ dùng đắp lên các vết thương, vết loét. Có nơi còn dùng ăn như món rau và cho rằng có tác dụng chữa bệnh scobut (chảy máu chân răng).

Đơn thuốc có cây cúc áo dùng trong nhãn dân Chữa hóc xương gà, xương cá: Hoa hoặc lá cây cúc áo 50g, lá mảnh cộng 50g, lá dưa chuột ma 50g, dấm thanh 3 thìa cà phê (chừng 20ml). Ba thứ lá hái tươi về rửa sạch, giã nát, thêm dấm thanh vào, frön đều, đợi 20 phút, vắt lấy một chén con nước. Cho bệnh nhân uống một ít nhưng chủ yếu là ngậm. Ngày chỉ ngậm 1 liều trên. Nặng có thể ngậm tới 3 liều (kinh nghiệm của cụ Hà Thị Oanh, Y học thực hành 8-1962, 21).

Cúc áo 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC