Vị thuốc vần D

Dạ Hợp

04:44 02/06/2017

Magnolia coco (Lour.) DC.

Tên đồng nghĩa: Liriodendron coco Lour. Magnolia pumila Andr.

Tên khác: Hoa trứng gà.

Tên nước ngoài: Dwarf magnolia, unsized magnolia (Anh).

Họ: Mộc lan (Magnoliaceae).

Mô tả

Cây bụi hoặc gỗ nhỏ, cao 2 - 4m. Cành nhẵn bóng, hơi có cạnh, có sẹo lá rải rác. Lá mọc so le, hình bầu dục, dài 15-17 cm, rộng 5-6 cm, gốc thuôn, đầu nhọn, mặt trên nhẵn bóng, gân lá nổi rõ ở cả hai mặt; cuống lá dày, dài 8-10 mm.

Hoa to, mọc đơn độc ở đầu cành, màu trắng, rất thơm, có cuống ngắn và nhẵn; đài 6 răng hình mác thuôn, màu lục nhạt sau màu trắng; cánh hoa 6, xếp thành hai vòng; nhị nhiều, thụt, màu trắng, trung đới dày nạc, nhọn đầu; bầu nhẵn, nhiều noãn.

Quả hình trứng, nhẵn, hơi dẹt.

Mùa hoa quả: tháng 5-6.

Phân bố, sinh thái

Chi Magnolia L. có 12 loài ở Việt Nam, trong đó có một loài lai. Theo nguyễn Tiến Bân (2003), cây dạ hợp mọc tự nhiên trong rừng thứ sinh ở tỉnh Cao Bằng (Quảng Hoà); Vĩnh Phúc (Tam Đảo); Quảng Ninh (Hà cối, Chúc Phai); Ninh Bình (Cúc Phương, Phúc Nhạc). Song trong quá trình điều tra dược liệu ở Việt Nam, chúng tôi chưa có dịp thu thập đưọc mẫu cây từ hoang dại, mà chủ yếu thấy trồng làm cảnh ở đình, chùa hay rải rác ở các nhà dân (miền Bắc), về vấn đề này, Võ Văn Chi (1997) cho rằng dạ hợp là cây nhập trồng từ Trung Quốc.

Dạ hợp là loại cây bụi nhỏ hoặc bụi lớn, phân cành nhiều. Cây ưa ẩm và ưa sáng, song cũng có thể hơi chụi bóng, khi được trồng ở vườn nhà. Dạ hợp ra hoa quả nhiều hằng năm; hoa nở vào sau nửa đêm, có mùi thơm và tự thụ phấn. Hiện tại chưa quan sát được cây con mọc từ hạt. Trong nhân dân, người ta thường trồng dạ hợp bằng cách chiết cành.

Bộ phận dùng

Hoa và thân cây.

Thành phần hoá học

Năm 2002, khi nghiên cứu về thành phần hoá học của một số loài thuộc chi Magnolia thu ở  Nam Á và Bắc Mỹ, các nhà khoa học thuộc Viện Dược liệu Áo (Asije o et ai., 2002) đã khẳng định các nhóm chất lignan và neolignan mà chủ yếu là honokiol và magnol là chất có hoạt tính sinh học. Từ loài magnolia mọc ở Nam Mỹ cũng phát hiện có chứa các neolignan.

Từ loài dạ hợp hoa hụê (Magnolia Miiflora) thường được trồng làm cảnh và loài Magnolia coco đã xác định được các chất như sesamin, fargesin và siringaresinol (Phạm Hoàng Hộ, 2006).

Loài dạ hợp hoa to (M. grandifora Hook, và Thomps) trồng ở Đà Lạt, vò chứa magnolidin (glucosid), magnolialid, magnograndiolid, costunolid, siringin, magnolenin c, acantosid B, peroxycostimolid, peroxypartenolid, magnoflorin, candicin và tinh dầu (The Wealths of raw material in India, 1952). Trong tinh dầu chứa 3% phenol, 4% họp chat carbonyl, cineol, sesquiterpen và các hợp chất chứa oxy không no. Ngoài ra còn chứa glucose, tanin, carotenoid, phytosterol, acid no (acid palmatic), acid không no (các acid oleic và linoleic).

Vỏ thân còn chứa alcaloid: salicifolin (C12H21O3N) magnoflorm, candicin (C11H19O2N) vả hợp chất iodid (C19H21O4NCH3I)

Hạt chứa magnoliol, honokiol.

Từ loài dạ hợp lá to, Koppaka V. Rao et al. (Planta medica. 1982) cũng đã phân lập được các diallylbipheno! như magnolol, honokiol, acuminatin, dehydrodieugenol và một lượng nhỏ các lignoiđ.

Trong loài Magnolia demidata Desr trồng ở Calcuta Ân Độ vỏ thân chứa 2 alcaioid tan được trong nước- là salicifolin và magnocurarin (C19H25O4N1/2H2O) (The wealths of raw material in India, 1952). Loài-Magnolia Ktìbus mọc hoang ở Nhật Bản, hoa chứa rutin. Loài M. obovata Thunb. có tên đồng danh là M. hypoỉeuca Sieb và Zucc chứa magnolol và macliilol (C|5H2(,0).

Các tác giả Nhật Bản (Shigestoshi Kadota et al., 1987) khi nghiên cứu trên loài Magnolia salicifolia Maxim cũng phân lập được magnosalin và magnoshinin là 2 hợp chất neolignan mới. Khi thử tác dụng chống viêm, nhận thấy magnoshinin có tác dụng tương đương liydrocortison acetat và đã bán tổng hợp thành Easaron.

Tính vị, công năng

Nụ hoa dạ hợp có vị cay, tính ấm, có tác dụng lý khí, khai khiếu, giải biểu, chỉ thống.

Công dụng

Nụ hoa dạ hợp hãm uống để giải cảm, thông mũi với liều 4 - 9g một ngày. Các bộ phận khác của cây được dùng chữa sốt, thấp khớp mạn tính, đòn ngã tổn thương, khí hư bạch đới, dùng cho phụ nữ sau khi đẻ, với 15 - 20g sắc uống. Hoa thơm dùng để ướp trà và trang trí.

Nhân dân Campuchia dùng nụ hoa cả cuống cây dạ hợp để giảm sốt, kích thích, bổ và điều trị thấp khớp [Perry và Metzger, 1980, Med. plants of East and Southeast Asia, MIT Press, Cambridge - Massachusetts - London]. Ở Indonesia, nhân dân trồng dạ hợp để làm cảnh và lấy hoa làm hương liệu [Medicinal herb index in Indonesia, 1995, 2nd Ed., p.5, PT Eisai Indonesia].

Dạ Hợp 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC