Vị thuốc vần Đ

Đại Hoàng

02:01 19/05/2017

Rheum officinale Baill.

Tên nước ngoài: Rhubarb (Anh), rhubarbe (Pháp).

Họ: Rau răm (Polygonaceaae).

Mô tả

Cây thảo lớn, sống lâu năm, cao l,5-2m. Rễ củ to và mập. Thân hình trụ, rỗng, nhẵn, màu lục hoặc nâu. Lá mọc so le, lá phía gốc, có cuống dài và có bẹ hoặc lưỡi bẹ, phiến hình trứng, rộng 30-50cm, gốc hình tim, đầu nhọn, mép xẻ 5-7 thuỳ có lông nhỏ dạng mi; mỗi thuỳ lại chia thành những mảnh nhỏ, mặt trên xanh lục sẫm, mặt dưới rất nhạt có lông mềm, gần 5-7 xuất phát từ gốc lá; cuống lá to dài 30-50cm.

Cụm hoa là một chùm dài, mang nhiều hoa nhỏ màu tím đỏ; bao hoa gồm 6 phiến bằng nhau; nhị 9; bầu có 1 ô.

Quả bế, hình trứng thuôn, có 3 cạnh, dài hơn lcm, có cánh dạng màng.

Loài Rheum palmatum L cũng được dùng.

Đại hoàng và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Rheum L là một chi lớn trong họ Polygonaceae, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ấm và cận nhiệt đới của châu Á, nhất là xung quanh dãy Himalaya, gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Nêpan, Pakistan... Ở Việt Nam, chi này có 2 loài đều là cây nhập nội. Loài đại hoàng được Viện Dược liệu nhập từ Trung Quốc và được trồng ở Trại thuốc Sa Pa và Tam Đảo.

Đại hoàng là cây ở vùng ôn đới. Cây trồng ở Việt Nam tỏ ra thích nghi với vùng có khí hậu á nhiệt đới núi cao (khoảng 1300m trở lên), quanh năm ẩm mát. Một số loài mọc tự nhiên ở Đông Bắc Ấn Độ và Tây Trung Quốc có khả năng chịu được thời tiết băng giá khắc nghiệt của mùa đông; lượng mưa về mùa hè và mùa thu rất thấp. Trong khi đó, cây trồng ở Sa Pa vẫn sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện lượng mưa hàng năm lên tới 2800mm. Tuy nhiên, đại hoàng là cây không chịu được ngập úng, dù chỉ 1-2 ngày.

Đại hoàng trồng bằng hạt sau 2 năm có hoa quả nhiều. Hạt giống thu ở Sa Pa có sức nảy mầm tốt. Cây còn có khả năng tái sinh vô tính bằng các nhánh con.

Cách trồng

Đại hoàng là cây thuốc di thực từ năm 1962, được trồng ở những vùng mát, có độ cao từ l000m trở lên như Sa Pa, Tam Đảo, Hà Giang, Đà Lạt, Hoà Bình. Cây trồng thử ở các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ không có hiệu quả.

Ở Việt Nam, cây ra hoa nhưng kết hạt kém, vì vậy được nhân giống bằng tách mầm. Khi thu hoạch hàng năm tách lấy mầm con để làm giống. Thời vụ trồng là tháng 2-3 ở miền núi và tháng 8-9 ở trung du và đồng bằng. Hiện nay cây chỉ còn được trồng ở miền núi.

Cần chọn đất có tầng canh tác dày, nhẹ, thoát nước tốt. Đất được làm nhỏ, lên thành luống cao 25-30cm, rộng 90cm hoặc làm thành các đường đồng mức. Dùng 15-20 tấn phân chuồng mục trộn với 300-500kg supe lân và tro thảo mộc để bón lót. Nên bón lót theo hốc, với khoảng cách 45x45 hoặc 50x45cm. Chú ý khi trồng cần để thò đầu mầm lên khỏi mặt đất, dận chặt và hàng ngày tưới đủ ẩm. Nếu trời còn lạnh quá, cần phủ mặt luống bằng rơm, rạ, cỏ khô, hay màng polvethvlen.

Đại hoàng trồng 2-3 năm mới được thu hoạch. Ngoài làm cỏ, xới xáo, hàng năm cần dùng phân chuồng, nước phân chuồng, nước giải pha loãng để bón thúc 2-3 lần. Nếu cây quá tốt, có thể bón thêm kali hay tro bếp, tỉa bớt lá. Ở nhiều nơi, nhân dân dùng cuống lá đại hoàng nấu canh chua, kho với thịt, cá.

Bộ phận dùng

Rễ của một số loài đại hoàng có ít nhất trên 3 tuổi. Sau khi đào về, gọt bỏ vỏ ngoài, chặt nhỏ, rồi phơi hay sấy khô. Lưu giữ trong một năm, rồi mới đem dùng.

Thành phần hoá học

Rễ đại hoàng chứa:

1. Anthranoid : Các hợp chất trong nhóm này (1,01- 5,19%) tồn tại dưới nhiều dạng :

- Anthraquinon tự do chiếm 0,10-0,20% dược liệu khô: chrysophanol, rhein, aloe-emodin, emodin, physcion.

- Anthraquinon glucosid chiếm 60-70% các dẫn chất nói trên trong dược liệu khô.: phvscion monoglucosid, aloe-emodin inonoglucosid, emodin monoglucosid, chrysophanol monoglucosiđ, rhein-8- mono - p - D - glucosid.

- Anthron. Đại hoàng chứa một số chất trong nhóm này ở dạng dimer : các rheiđin A, B, c, các palmidin A, B, c, dirhein.

- Anthron glucosiđ ở dạng dimer : các senosid A, B, c, D.

Các chất ở dạng khử chiếm 30-40% trong số các chất anthranoid của dược liệu khô và thường gặp ở cây tươi vào mùa đông.

Santosh K. Aganval và cs (1998) đã chứng minh rễ đại hoàng có 2 chất mới là rheinal và rhein - 11 - 0 - p -glucosid (Indian. f. of chem, vol 38B, 1999, 749.751).

2. Tanin (vào khoảng 5%): D-catechin, glucogalin (chất này dễ thuỷ phân cho glucose và acid galic), tetrarin (chất này khi thủy phân cho acid galic và acid cinamic và rheosinin).

3. Các chất khác : Các chất vô cơ 8-12% (trong đó có nhiều oxalat, tinh bột, pectin, tinh dầu (vết), aciđ hữu cơ, một chất nhựa và một chất màu đất son. Hai chất sau có tác dụng tẩy.

Tác dụng dược lý

1. Tác dụng kháng khuẩn: Đại hoàng có tác dụng kháng khuẩn trên tụ cầu, trực khuẩn lỵ, thương hàn và Vibrio cholerae.

Đối với Bacteroides /ragìlis Là một vi khuẩn kị khí trong hệ vi khuẩn ruột ở người, đã thử 178 vị thuốc thường dùng trong y học cổ truyền Trung Quốc thấy đại hoàng có hoạt tính khá so với các vị thuốc khác và chất có hoạt tính đã xác định được là rhein.

2. Tác dụng lợi niệu và ức chế Na* K*ATPase của tuỷ thận thỏ: Eraodin trong đại hoàng làm tăng thể tích nước tiểu lên 5,9 lần, tăng thải trừ natri 4,4 lần và kali lên 3 lần so với lô chứng. Nhưng các hoạt chất aloe emodin và chrysophanol chỉ có tác dụng yếu.

Emodin, rhein và aloe emodin có tác dụng ức chế cạnh tranh mạnh trên Na+K+ATPase màng tế bào của tuỷ thận thỏ ở các nồng độ lần lượt là 9,8; 11,0 và 19,3 ug/ml. Đã xác định được nồng độ ức chế K; của 3 chất lan lượt là 133.106; 1,41.10'® và 7.41.106 mol/lit. Ki càng nhỏ thì tác dụng ức chế càng mạnh; như vậy emodin và rhein có tác dụng ức chế mạnh hơn nhiều (hơn 5 lần) so với aloe emodin. Có lẽ tác dụng lợi niệu của emodin và rhein là do ức chế Na+K+ATPase.

3. Tác dụng độc tế bào của anthraquinon đại hoàng: Thử trên một số loại tế bào ung thư, các glucosid anthraquinon đại hoàng có tác dụng độc ở mức độ vừa phải.

4. Tác dụng kích thích co bóp ruột ở người: Tác dụng chậm, xảy ra khoảng 5-10 giờ sau khi uống thuốc, có khi lâu hơn. Phân mềm, vàng hoặc nâu sẫm, màu này một phần do màu của đại hoàng, một phần do chất mật tiết ra nhiều hơn. Thường không thấy đau bụng, đôi khi buồn nôn, chóng mặt hoặc nổi mẩn.

Mặc dù đại hoàng kích thích co bóp ruột, gây ra tác dụng nhuận tràng và tẩy là do loại hoạt chất anthraquinon, nhưng không nên dùng cho người hay bị táo, vì thường sau khi gây tác dụng nhuận tràng, đại tràng hay gây táo bón mạnh hơn trước. Đó là do trong đại tràng còn có tanin đặc biệt là glucogallin. Đối với người bị trĩ cũng không nên dùng đại hoàng do tác hại gây xung huyết các mạch máu trĩ.

5. Thử lâm sàng xuất huyết đường tiêu hoá trên: Đã thử 2 bài thuốc có đại hoàng. Bài thứ nhất gồm bột hỗn hợp đại hoàng và bạch cập; bài thứ hai là nước sắc đại hoàng, địa hoàng, hoàng liên và hoàng kỳ tỷ lệ có kết quả và thời gian điều trị trung bình của bài thứ nhất là 97,1% (68/70 bệnh nhân) sau 4,13 ± 3,00 ngày; của bài thứ hai là 90% (90/100 bệnh nhân) sau 3,51 ± 1,54 ngày. Chú ý phải điều trị thận trọng nếu là bệnh nhân bị xuất huyết dạ dày-ruột do ung thư, do giãn tĩnh mạch thực quản hoặc xơ gan.

6. Tác dụng trên vi tuần hoàn của móng tay ở bệnh nhân tâm thần phân liệt: Đã quan sát phân tích vi tuần hoàn của móng tay ở 120 bệnh nhân bị tâm thần phân liệt có so sánh với 100 người khoẻ mạnh sau khi dùng bài thuốc hạ huyết tán ứ gồm có đại hoàng, đan sâm, chỉ thực và hắc tam lăng (Sparganiurn stoloniferum).

Kết quả ở nhóm thứ nhất có 60 bệnh nhân chỉ dùng bài thuốc cổ truyền, thấy 45% có tác dụng; ở nhóm hai, 60 bệnh nhân điều trị kết hợp công thức trên và thuốc tây y, kết quả đạt 75%. Như vậy, tác dụng hiệp đồng giữa thuốc cổ truyền và thuốc hiện đại được thể hiện tốt hơn. Khám lâm sàng thấy các biếu hiện của tâm thần phân liệt giảm song song với việc cải thiện vi tuần hoàn của móng tay.

7. Khi dùng thuốc, các chất màu trong đại hoàng thấm vào máu, nước tiểu, mồ hôi, sữa tạo ra màu vàng. Nếu nước tiểu có phản ứng kiềm sẽ có màu dỏ. Thuốc tiết vào sữa mẹ, nên có thể gây tác dụng tẩy cho trẻ bú.

8. Trong đại tràng, có một tỷ lệ đáng kể calci oxalat, nên không dùng dài ngày cho người bị sỏi thận, dễ làm cho bệnh nặng thêm.

9. Tác dụng của đại hoàng thay đổi tuỳ theo liều dùng, liều thấp có tác dụng làm săn, se; liều trung bình có tác dụng lợi mật, tiêu tích trệ, phá ứ; liều cao có tác dụng tẩy. Liều trung bình thường được dùng nhiều hơn.

Tính vị, công năng

Đại hoàng có vị đắng, tính hàn, vào 5 kinh tỳ, vị, can, tâm bào và đại tràng, có tác dụng thông đại tiện, tiêu tích trệ, phá ứ huyết, kết báng ở bụng.

Công dụng

Đại hoàng được dùng trong y học cổ truyền và y học hiện đại. ít khi dùng liều nhỏ với tác dụng làm săn. Liều vừa phải chữa kém ăn, ăn không tiêu, da vàng, đau bụng, tả lỵ, bế kinh. Ngày 0,5-1g thuốc bột, thuốc viên, hoặc đến 2g dạng thuốc sắc. Liều cao là thuốc tẩy nhẹ dùng cho người đầy bụng, đại tiện bí, hoàng đản nặng. Ngày 3-10g sắc uống, thường phối hợp với các vị thuốc khác như chỉ thực, hậu phác, hoàng liên, mang tiêu. Dùng ngoài trị nấm da, hắc lào.

Đối với những trường hợp lợi tiểu, chống xuất huyết tiêu hoá hoặc tâm thần phân liệt, thường không dùng riêng đại hoàng, mà phối hợp với nhiều vị thuốc khác.

Chú ý : Phụ nữ có thai, đang cho con bú hoặc người bị sỏi tiết niệu do calci oxalat không dùng đại hoàng.

Bài thuốc có đại hoàng

1. Chữa đau bụng, bí đại tiện, nôn mửa:

Đại hoàng 7g, cam thảo 4g, sắc uống vào lúc đói ("Đại hoàng cam thảo thang" đơn thuốc của Trương Trọng Cảnh).

2. Chữa bị thương, ứ máu, viêm gan, tắc mật : Đại hoàng tẩm rượu sao, tán bột. Ngày uống 2-4 lần, mỗi lần 2-3g.

3. Chữa viêm miệng, sưng lợi răng : Đại hoàng sắc đặc ngậm rồi nhổ đi.

4. Chữa nấm, hắc lào, sưng tấy : Đại hoàng l0g, giấm 5ml, rượu 50ml. Ngâm trong 10 ngày, dùng bôi.

5. Chữa bỏng hoặc bong da nứt nẻ: Đại hoàng tán thành bột, gói vào vải thưa, nhúng vào dầu vừng, bôi rồi xoa.

 

Đại Hoàng 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC