Vị thuốc vần Đ

Đay Sợi

10:01 05/06/2017

Hibiscus cannabinus L.

Tên khác: Đay, kê náp.

Tên nước ngoài: Chanvre de Bombay (Pháp).

Họ: Bông (Malvaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống hàng năm, mọc đứng, cao khoảng 2m hoặc hơn. Thân phình ở gốc, hơi có cạnh, gần như nhẵn. Lá mọc so le, hình lưỡi mác chia nhiều thùy chân vịt, dài 4 - 7 cm, rộng 1 - 2 cm, gốc tròn, đầu nhọn, mép hơi có răng cưa; cuống lá đài hơn lá, mềm và nhẵn; lá kèm hình chỉ.

Cụm hoa mọc ở ngọn thành chùm dài mang lá; hoa màu vàng, gốc màu đỏ tía; đài phụ gồm 8 phiến hẹp, rời nhau ở gốc, dài 1 cm; đài có lông màu trắng nhạt với những hàng sợi mảnh như gai lá đài hình tam giác nhọn, dài gấp đôi đài phụ; tràng hình nêm dài khoảng 5 cm; nhị nhiều đính trên một cột; bầu có lông.

Quả hình tháp, có lông cứng dạng sợi, bao bọc bởi đài và đài phụ tồn tại, màu vàng, khi chín nứt làm 5 mảnh; hạt nhẵn, màu nâu nhạt, có những vảy nhỏ màu trắng nhạt.

Mùa hoa: tháng 8-9.

Phân bố, sinh thái

Đay sợi có nguồn gốc từ châu Phi, song không rõ đã được nhập trồng ở Việt Nam từ bao giờ, có thông tin rằng, cây cũng chỉ mới đưa vào từ thời Pháp thuộc. Cây được trồng nhiều tại các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Hà Nam và Ninh Bình. Vào khoảng năm 1944 - 1945, khi người Nhật Bản đô hộ nước ta đã bắt nhân dân ở đồng bằng Bắc Bộ nhổ lúa để trồng đay, hậu quả đã gây nên nạn đói khủng khiếp vào thời gian này.

Đay sợi là loại cây đặc biệt ưa sáng, ưa ẩm và có mức độ sinh trưởng rất nhanh. Cây gieo trông bằng hạt, chỉ sau 4 tháng có thể cao tới 3,5m và ra hoa quà nhiều. Hoa đay có tuyến mật nên cũng là nguồn thức ăn để nuôi ong mật. Ngược lại, ong mật cũng là tác nhân thụ phấn quan trọng của cây đay sợi. 

Vài chục năm gần đây, do có nguồn chất dẻo polyetylen làm sợi thay thế nên diện tích trồng đay ở nước ta đã giảm đi nhiều. Trong quá khứ, sợi đay cũng là nguồn xuất khẩu quan trọng của một số tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ.

Bộ phận dùng

Lá và hạt.

Thành phần hoá học

Hạt chứa dầu béo giống như dầu lạc, radium, thorium, robidium. Hoa chứa glucosid cannabistricin và flavonoid canabiscetin [Võ Văn Chi 1996, Từ điển Cây thuốc Việt Nam, tr. 611],

Người ta tìm thấy trong loài kê náp còn chứa lignin (5,95%), furfuraldehyd (11- 30%), đường, pectin tanin, poiysacharid. Hạt chứa acid amin: lutidin arginin, tyrosin và lysine (CA, 1931, 25, 3376) và đã tìm thấy một flavonol khác là myricetin (The wealth of India (1959) vol 5, p.77).

Kê náp là loài cây có chứa chất độc, chất dầu béo không thể làm khô, chứa tới 55,9% acid stearic, 9,1% acid palmitic, 32,6% acid oleic, 2,4% acid linoleic và acid hibiscic [John Mittchel Watt et al. (1962), The medicinal and poisonous plants of southern and eastern Africa, p.736 - 739],

Tác dụng dược lý

1. Tác dụng độc với cây trồng và độc với nấm

Tinh dầu cây đay sợi đã xác định có 58 thành phần, trong đó hàm lượng nhiều gồm có (E) - phytol 28,16%; (Z) - phytol 8,02%; n - nonanal 5,70%; benzen - acetaldehyd 4,39%; (E) - 2 - hexenal 3,10%; và 5 - methyl - furfural 3,00%, có tác dụng độc trên cây rau diếp và cỏ mần trầu. Tinh dầu cũng có tác dụng kháng nấm trên Collectotriclnim fragarial, c. gỉoeosporioides, và c. acculatum> nhưng ít hoặc không có tác dụng trừ rong biển (Kobaisy M et al., 200 i ).

2. Tác dụng độc tế bào

Đã nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn và tác dụng độc tế bào của 6 lignan được phân lập từ cao chiết bằng aceton của lõi và vỏ cây đay sợi. Hai hợp chất (2 và 3) có tác dụng độc tế bào rất mạnh trên các dòng tế bào HeLa, Hep-2 và A-549 (theo thứ tự !à dòng tể bào ung thư cổ tử cung người, dòng tế bào ung thư dạng biểu mô nguời và dòng tế bào ung thư phổi người; còn 5 chất có tác dụng mức độ vừa trên tế bào HeLa khi nghiên cứu các chất này trên kỳ phân chia của chu kỳ tế bào. Tất cả các ligan đều không biểu hiện tác dụng kháng vi sinh vật (Moyir L.et aL 2007).

3. Tác dụng điều hòa miễn dịch

Lá cây đay sợi đã được dùng từ lâu đời trong y học dân gian Ấn Độ và châu Phi để chữa các bệnh về máu, họng, mật, sốt và trong thời kỳ sinh đẻ.

Mục đích nghiên cứu: Chứng minh các tác dụng dược lý dân tộc học bằng cách nghiên cứu tác dụng điều hoà chức năng của đại thực bào và mở rộng điều trị theo hướng các bệnh khác trung gian qua đại thực bào của cao toàn phần thô chiết bằng ethanol 80% từ lá tươi cây đay sợi

Kết quả:

a) Cao lá đay sợi ức chế có ý nghĩa sự sản sinh yếu tố hoại tử u a (TNF - a: tumor necrosis factor - a) và ức chế biểu hiện mRNA của interleukin - 3 (IL - 3) và IL - 12 trong tế bào RAW264.7 đã được lipopolysaccharid (LPS 2,5 ng/ml) kích thích.

b) Cao làm giảm sự tiết ra các chất trung gian viêm như nitric oxid (NO), loại oxygen phàn írng (ROS: reactive oxygen species) và prostaglandin E2.

c) Cao gây ra biểu hiện mRNA của heme oxygenase -1, một phân tử bảo vệ tế bào rất mạnh.

d) Cao lá đay sợi ức chế cả sự thu nạp đại thực bào, cả biểu hiện mRNA cùa các phân tử CD80 và CD86 trong các tế bào RAW264.7 đã được hoạt hoá bởi LPS.

e) Điều lý thú là cao lá đay sợi điều hoà xuống sự hoạt hoá chức phận của beta - 1 - integrin (CD29) và điều hoà lên hàm lượng CD29 bề mặt gây ra do LPS.

Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy cao lá đay sợi có thể điều hoà được đáp ứng trung gian của đại thực bào và hoạt tính đó là nguyên nhân việc sử dụng trong điều trị (Lee Y.G. et al., 2007).

Tính vị, công năng

Lá đay sợi vị chua có công năng kiện vị, gây xổ tẩy. Hạt kích dục và làm béo. Tài liệu Ấn Độ [Kirtikar và Basu, 1998, I: 327] ghi: hạt đay sợi vị cay, chua; có công năng làm ăn ngon, kiện vị, kích dục và làm béo; hạt làm thông mật, kiện vị...

Công dụng

Lá đay sợi để nhuận tràng và tẩy, chữa thiểu năng mật. Dùng lá tươi giã nát lấy dịch uống. Lá có thể nấu canh, thay rau. Hạt giã nát, dùng ngoài đắp lên vết thương đau, bầm giập. Hạt có nhiều chất béo, có thể ép dầu ăn hoặc chế xà phòng .Vỏ thân để làm sợi, dệt bao tải, lưới đánh cá.

Ở Ấn Độ, lá đay sợi được dùng để tẩy; còn để chữa kiết lỵ, các bệnh về máu, về mật và đau họng [Kirtikar và Basu, 1998, I: 325]. Hoa để làm tăng tiết mật. Hạt dùng ngoài chữa đau và chấn thương, đụng giập. Dùng trong để kiện vị, làm béo người, còn được coi là kích dục (Chopra et al., 2001). Thường trồng trên các cánh đồng để lấy sợi [Srivastava, 1989: 69]

Ở Gambia, nước hãm lá được dùng chữa ho. ở Indonesia, lá để làm thức ăn và tẩy; hoa để chữa bệnh về túi mật, hạt chữa thâm tím, đụng giập [Med. Herb index, 1995: 83].

Bài thuốc có đay sợi

Chữa thiểu năng mật, làm tăng tiết mật: Hoa cây đay sợi 20 - 30g hoặc lá tươi 30 g rửa sạch, giã nát, ép lấy dịch (rất chua), thêm đường và hồ tiêu vừa đủ rồi uống (Chopra et al., 2001).

Đay Sợi 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC