Vị thuốc vần Đ

Địa Liền

03:38 19/05/2017

Kaempferia galanga L.

Tên khác: Sơn nại, tam nại, củ thiền liền, sa khương, co xá choóng (Thái).

Tên nước ngoài: East indies galingale (Anh); kaempférie, faux galanga (Pháp).

Họ: Gừng (Zingiberaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống lâu năm, không có thân. Thân rễ gồm nhiều củ nhỏ, hình trứng mọc nối tiếp nhau, có nhiều vân ngang. Lá, 2- 3 cái hình trứng gần tròn, xoè rộng sát mặt đất, đầu tù rồi thuôn nhọn, gốc thuôn hẹp thành một cuông ngắn rộng có rãnh, mặt trên nhẵn bóng, mặt dưới hơi có lông mịn, mép mỏng màu đỏ, hai mặt có nhiều chấm hình vòng, phiến lá dài 8- 10cm, rộng 6- 7cm.

Cụm hoa không cuống, nằm ẩn trong bẹ lá; lá bắc hình mũi mác nhọn; hoa 6-12 cái, xếp thành hình bánh xe, màu trắng có đốm tím ở giữa; dài có 3 răng dài, hẹp và nhọn; tràng có ống dài, mang 3 thuỳ; nhị không có chỉ nhị, bao phấn có 2 ô song song; có nhị lép, cánh môi to chẻ đôi thành 2 thuỳ. Toàn cây nhất là thân rễ có mùi thơm và vị nóng.

Mùa hoa quả: tháng 5- 7.

Tránh nhầm lẫn với cây Kaempferia angustifolia Roscoe mà nhân dân Phú Thọ cũng gọi là địa liền.

Địa liền và tác dụng chữa bệnh của nó

 

Phân bố, sinh thái

Chi Kaempferia L. có 9 - 10 loài ở Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân, 1997). Loài địa liền phân bố ở Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Philippin, Thái Lan, Lào,Campuchia và Trung Quốc. Ở Việt Nam có, loài địa liền lá hẹp mọc tự nhiên dưới các rừng thưa, rụng lá hoặc nửa rụng lá ở Đắc Lắc, Đồng Nai và ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh.

Địa liền là cây vốn mọc tự nhiên cũng ở Tây Nguvên,một số tỉnh miền núi như Hà Giang, Yên Bái, Sơn La. Cây đã đuợc trồng ở nhiều nơi vùng đồng bằng sông Hồng (Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Quảng Ninh...), Nghệ An và Thanh Hoá. Địa liền là cây ưa sáng, ưa ẩm và có khả năng chịu hạn. Hàng năm, cây mọc lá non vào tháng 4- 5, sinh trưởng nhanh trong mùa hè và sau đó ra hoa. Hoa nở mỗi ngày một cái vào lúc sáng sớm, rồi tàn lúc 10 giờ. Địa liền có khả năng đẻ nhánh khoẻ. Từ một củ con (mẩu thân rễ) lúc mới trồng, sau một năm đã tạo thành khóm lớn. Toàn bộ phần trên mặt đất tàn lụi vào mùa đông.

Đầu những năm 90, các tỉnh phía bắc trồng nhiều địa liền để xuất khẩu. Hiện nay, cây trồng chủ yếu cho nhu cầu sử dụng trong nước. Nguồn địa liền tự nhiên ở Tây Nguyên cũng cần chú ý để tận thu.

Cách trồng

Địa liền là loại cây quen thuộc và được trồng ở khắp nơi để làm thuốc. Thông thường, cây được trồng phân tán ở các vườn gia đình. Gần đây, khi thị trường có nhu cầu, cây mới được trồng trên quy mô sản xuất. Nông trường Hữu Nghị (Hoành Bồ- Quảng Ninh) và Trại nghiên cứu cây thuốc Văn Điển (Viện Dược liệu) trước đây đã nghiên cứu kỹ thuật trồng địa liền.

Cây được nhân giống bằng rễ củ. Khả năng tái sinh của rễ củ địa liền rất mạnh. Chỉ cần một mảnh nhỏ cũng có thể mọc thành cây. Tuy nhiên, để đảm bảo năng suất, cần chọn những nhánh củ chưa mọc thành cây, có đường kính 1,5- 2cm, không bị nhiễm bệnh, không dập nát.

Địa liền trồng được trên nhiều loại đất, nhưng phải tơi xốp, cao ráo, thoát nước, đủ ánh sáng. Cây hơi chịu bóng nên có thể trồng xen với các cây khác. Ở các vườn gia đình, trong điều kiện bị che bóng một phần, cây vẫn sinh trưởng tốt. Đất cần làm nhỏ, để ải, vơ sạch cỏ, bón phân lót, lên luống rồi trồng. Củ địa liền ăn nông trên mặt đất nên luống chỉ cần cao 20- 30cm. Mặt luống rộng hay hẹp tuỳ theo việc chăm sóc. Trung bình, mồi hecta dùng 20- 25 tấn phân chuồng hoai mục, 250kg supe lân, 150kg kali và có thể thêm 3- 5 tạ tro bếp để bón lót. Riêng đối với kali bón lót một nửa và một nửa để bón thúc. Phân có thể bón lót theo hốc, theo hàng hay trộn đều với đất trên mặt luống. Mầm được trồng với khoảng cách 15 X 20 hoặc 20 X 20cm, phủ đất dày 1 - 2cm, cho trấu hoặc rơm rạ lên trên rồi tưới nước giữ ẩm hàng ngày. Mỗi hecta cần 1,5- 2 tấn củ giống.

Ruộng địa liền phải luôn sạch cỏ. Thời kỳ đầu, cần xới xáo nhẹ để giữ cho mặt luống thông thoáng. Từ tháng 5 đến tháng 8, dùng nước phân, nưóc giải hoặc đạm pha loãng để bón thúc cho cây, cứ 25- 30 ngày bón một lẩn.

Địa liền ít bị sâu bệnh. Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý tháo nước sau mưa. Cây bị úng dễ thối củ.

Sang tháng 12, cây bắt đầu tàn lụi. Lúc này có thể thu hoạch củ hoặc để đến tháng giêng. Củ đào về, rửa sạch, thái nhỏ, sấy lưu huỳnh qua một đêm rồi phơi hoặc sấy nhẹ đến khô. Năng suất củ tươi đạt trung binh 15- 20 tấn/ ha. Tỷ lệ tươi/ khô giao động trong khoảng 3,5- 4.

Bộ phận dùng

Thân rễ, thu hái vào mùa đông xuân, rửa sạch phơi khô, không được sấy bằng than.

Thành phần hoá học

Thân rễ địa liền khô chứa 2,4 - 3,9% tinh dầu. Thành phần chủ yếu là acid p - methoxycinamic, ethyl cinamat và p - methoxy ethylcinamat. Hợp chất p - methoxy ethylcinamat chiếm tới 30% dỗ dàng kết tinh khi bảo quản trong điều kiện lạnh. Phần lỏng còn lại sau khi tách khỏi phần kết tinh có các hằng số vật lý sau: Trọng lượng riêng 0,8792 - 0,8914, chỉ số acid 0, 5 - 1,3, chỉ số xà phòng 99,7 -109, [ot]D30- 2,6°- 4,5°, nD30 14773- 14855.

Ngoài ra, thân rễ còn có các hợp chất n- pentadecan, A3 - caren, camphen, o - methoxy ethylcinamat, borneol, p - methoxystyren, acid transcinamic, aldehyd cinamic, cineol, kaempferol và kaempferid.

Tác dụng, dược lý

Dựa vào kinh nghiệm sử dụng làm thuốc trong nhân dân, ở Việt Nam, địa liền đã được tiến hành nghiên cứu một số tác dụng sau:

1 .Tác dụng giảm đau: Trên mô hình gây đau nội tạng bằng cách tiêm dung dịch acid acetic 0,6% vào xoang bụng chuột nhắt trắng để tạo nên những cơn đau quặn, địa liền dùng với liều 5g/kg thể trọng, bằng đường uống, một giờ sau khi dùng thuốc làm giảm 69% số lần xuất hiện cơn đau (P< 0,02). Còn trên mô hình gây đau bằng sức nóng, địa liền không thể hiện tác dụng giảm đau kiểu morphin.

2. Tác dụng chống viêm: Trên mô hình gây phù bàn chân chuột cống trắng bằng cách tiêm nhũ dịch kaolin 10%, địa liền có tác dụng chống viêm rõ rệt, dạng cao cồn với liều lOg/ kg thể trọng ức chế viêm 63,8% dạng cao nước với liều lOg/kg thể trọng cũng ức chế viêm 60% (P < 0,02). Tinh dầu và dạng tinh thể chiết từ địa liền cũng có tác dụng chống viêm tương tự.

3. Tác dụng hạ sốt: Trên thỏ gây sốt thực nghiệm bằng pyrogen chuẩn (natri nucleinat). Địa liền với liều 5g/kg bằng đường uống, 2 giờ sau khi dùng thuốc, làm hạ sốt 0,4 - 0,5°c so với lô đối chứng. Theo tài liệu nước ngoài, địa liền còn có một số tác dụng khác. Trên ống nghiệm, nước sắc thân rễ có tác dụng ức chế sự phát triển của một số nấm thường gây bệnh ngoài da; chất p - methoxycinamic acid ethylester có phổ kháng nấm khá rộng. Cao chiết bằng cloroform từ thân rễ trên ống kính có tác dụng ức chế co thắt giải động mạch chủ chuột cống trắng gây nên do K+ hoặc do phenylephrin. Thí nghiệm trên chuột lang, chất ethyl - p - methoxy - transcinamat gây giãn khí phế quản, chứng tỏ việc sử dụng địa liền trong điều trị bệnh hen suyễn là có cơ sở. Chất ethyl - p - mcthoxy - transcinamat còn có tác dụng như một chất ức chế men monoaminoxydase (monoaminoxydase inhibitor), có thể dùng làm thuốc chữa trầm cảm.

Cao chiết bằng ethanol từ địa liền có tác dụng độc tế bào đối với tế bào carcinom cổ tử cung (Hela) và diệt amip. Các thành phần ethyl cinnamat, p - methoxy - cinnamat và acid p -methoxy - cinnamic, có tác dụng diệt dòi bọ. Borneol có tác dụng làm ra mồ hôi, gây hưng phấn, giải co thắt.

Tính vị, công năng

Theo tài liệu cổ, địa liền có vị cay, tính ôn, vào các kinh tâm, tỳ, vị, có tác dụng ôn trung, tán hàn, trừ thấp, tiêu thực, bạt khí độc.

Công dụng

Theo kinh nghiệm nhân dân, địa liền được dùng chữa ngực bụng lạnh đau, tiêu chảy, thuốc kiện vị, giúp tiêu hoá chữa chứng ăn uống khó tiêu, đau dạ dày, cảm, ho, nôn mửa, hen suyễn.

Liều dùng: ngày 3 - 6g dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột, thuốc viên hay thuốc hãm.

Địa liền (lkg) phối hợp rau má (lkg), thổ phục linh (lkg), cam thảo (0,5kg). Tất cả phơi khô tán bột. Ngày uống 2 - 4g. Chữa cảm sốt, nhức đầu, táo bón kinh niên, ăn không tiêu (kinh nghiệm của Hợp tác xã Thuốc dân tộc Hợp Châu)

Viên bạch - địa - căn gồm địa liền (0,03g), bạch chỉ (0,1 Og), cát căn (0,12g) do Viện Dược liệu nghiên cứu sản xuất đã được ứng dụng trong điều trị trên lâm sàng ở Bệnh viện Saint Paul - Hà Nội, đạt kết quả tốt.

Thuốc có tác dụng hạ sốt rõ rệt, giảm đau, kháng khuẩn, ít gây tác dụng phụ nên được sử dụng an toàn cho người lớn và trẻ em. Dùng ngoài, rượu ngâm riêng địa liền hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác như huyết giác, thiên niên kiện, đại hồi, quế chi, long não dùng xoa bóp, chữa đau nhức, tê phù hoặc ngậm chữa đau nhức răng (không được uống)

Ngoài ra, tinh dầu địa liền để chế nước hoa, mỹ phẩm, làm vị điều hương trong thực phẩm. Bột địa liền có tác dụng bảo vệ quần áo chống nhậy cắn.

Ở Philippin, nước sắc địa liền chữa ăn uống khó tiêu, sốt rét. Lá địa liền giã nát hơ nóng, đắp chữa tê thấp. Ở Malaysia, thân rễ địa liền được dùng chữa cao huyết áp, lở loét, hen suyễn. Lá và thân rễ nhai ngậm chữa ho và đau họng. Thân rễ dùng riêng chữa cảm lạnh. Một vài nơi dùng lá và thân rễ địa liền làm rau ăn sống.

Bài thuốc có địa liền

1. Chữa ăn uống khó tiêu, đau dạ dày, đau thần kinh (Diệp Quyết Tuyền):

Địa liền 2g, quế chi lg,. Hai vị tán nhỏ thành bột mịn, trộn đều, chia làm 3 lần uống trong ngày.

2. Chữa ngực bụng lạnh đau: Địa liền, đinh hương, đương quy, cam thảo, với lượng bằng nhau. Tán nhỏ thành bột, trộn với hồ làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 10 viên.

Địa Liền 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC