Vị thuốc vần D

Dó Tròn

09:04 08/06/2017

Helicteres isora L.

Tên đồng nghĩa: Helicteres grewiae folia DC.

Tên khác: Tổ kén tròn, thâu kén tròn.

Tên nước ngoài: East - Indian screw tree (Anh).

Họ: Trôm (Sterculiaceae).

Mô tả

       Cây bụi, cao đến 2m. Cành non hình trụ, phủ đầy lông hình sao, cành già nhẵn. Lá mọc so le, hình trái xoan, dài 10 - 12 cm, rộng 7-9 cm, gốc tròn hoặc hình tim, đầu tù rồi hơi nhọn, mép khía răng không đều, phía đầu lá gần như phân thuỳ nhỏ, mặt trên rải rác lông hình sao, mặt dưới lông rất dày, màu trắng, gân gốc 5; cuống lá ngắn có lông tơ; lá kèm hình sợi, dễ rụng.

     Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành xim co, dài 2 cm gồm nhiều hoa màu đỏ hoặc tím, xếp 2 - 4 cái trên một mấu; đài hình ống, có lông hình sao, 5 răng hình tam giác nhọn; tràng có 5 cánh không đều, nhẵn; nhị 10, nhị lép 5; bầu hơi có gợn. Quả nang gồm 5 lá noãn vặn xoan như cuốn thừng, phủ đầy lông hình sao; hạt có khía.

     Mùa hoa: tháng 4-6; mùa quả: tháng 7-11.

Phân bố, sinh thái

      Chi Helicteres L. ở Việt Nam có chín loài, trong đó có tới sáu loài được nhân dân các địa phương dùng làm thuốc. Loài tổ kén trên đây có nơi gọi là "Dó tròn", song đây là loài duy nhất của chi Helicteres L. ở nưóc ta có quả khả đặc biệt bởi có các đường lõm vặn chéo theo chiều kim đồng hồ, nên còn có tên gọi là "Tổ kén vặn" hay "Tổ kén xoắn". Trên thế giới, tổ kén vặn phân bố khá rộng ở hầu hết các nước nhiệt đới châu Á, bao gồm Ấn Độ, Mianma, Lào, Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan... ở Việt Nam, loài cây này cũng có thể gặp ở các tỉnh thuộc vùng núi thấp và trung du như: Lai Châu, Điện Biên, Phú Thọ, Hà Tây, Hoà Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lắc, Bình Phước...

     Cây ưa sáng và có thể hơi chịu hạn và thường mọc trong các quần hệ cây bụi, ven rừng thứ sinh, rừng thưa nửa rụng lá. Tổ kén vặn cũng nằm trong tổ thành những cây ưa sáng mọc nhanh trên đất sau nương rẫy. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm. Quần thể cây mọc tự nhiên ở các tỉnh phía nam có quả già vào đầu mùa khô. Tái sinh chủ yếu từ hạt hoặc mọc cây chồi gốc sau khi chặt.

Bộ phận dùng

      Rễ, quả, vỏ thân và vỏ rễ. Thu hái quanh năm, rửa sạch, thái phiến và phơi khô.

Thành phần hoá học

     Vỏ lấy sợi, chứa các chất diệp lục, phytosterol, acid hydroxy carboxylic, một chất màu vàng cam giống như curcumin, saponin, đường amilid, phlobotamin và 22,4% lignin (Võ Văn Chi, 1997). Gỗ chứa 74,86% celulose, lignin, chất béo và hợp chất nitơ chưa được xác định [The Wealth of raw material in India, 1962].

      Rễ chứa cucurbitacin B, isocucurbitacin D và diosgenin (Phạm Hoàng Hộ, 2006). Các nhà khoa học Ấn Độ còn phân lập được từ dó tròn các hợp chất isorin, tetratriacontanyl, tetratriacontanoat, diosgenin, <span style="background-color: rgb(255, 255, 255); color: rgb(34, 34, 34); font-family: Athena, Gentium, " arial="" unicode="" ms",="" "lucida="" sans="" unicode",="" grande",="" code2000;="" font-size:="" 14px;="" text-align:="" center;"="">α - amyrin, fridelin và taraxeron [Trung Dược đại từ điển, 1975] [CA, 1989 V].

      Nadkarnis M.K. (1976) còn phát hiện thấy các hợp chất tanin.

Tác dụng dược lý

1. Tác dụng chống đái tháo đường và hạ lipid huyết

     Dịch ép rễ cây dó tròn đã được dùng để điều trị đái tháo đường cho một số nhóm dân tộc ỏở các vùng khác nhau của Ấn Độ. Thử trên chuột nhắt trắng dòng C57 BL/KsJdb/db là loại chuột kháng insulin (chuột có nồng độ insulin trong máu cao nhưng glucose huyết cũng vẫn cao) và đái tháo đường di truyền thấy, cao ethanol của rễ dó tròn làm giảm có ý nghĩa glucose, triglycerid và hàm lượng insulin trong huyết tương khi dùng liều của cao là 300 mg/kg trong 9 ngày liên tiếp (Chakrabarti et al., 2002).

     Ở chuột nhắt trắng có glucose huyết và insulin huyết bình thường, nhưng triglycerid tăng, cao dó tròn làm giảm có ý nghĩa hàm lượng triglycerid và insulin trong huyết tương, mà không ảnh hưởng đến hàm lượng glucose trong huyết tương. Cao ethanol rễ dó tròn có cơ chế tác dụng khác với glibenclamid và acarbose, nhưng lại giống với cơ chế tác dụng của troglitazon. Trên mô hình chuột hamster cho chế độ ăn nhiều mỡ để gây tăng lipid huyết, cao rễ dó tròn làm giảm có ý nghĩa hàm lượng lipid trong huyết tương. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cao dó tròn có tác dụng làm tăng nhạy của insulin với tế bào đích (cơ, mô mỡ) và làm hạ lipid huyết, nên có khả năng sử dụng để điều trị đái tháo đường típ 2 (Chakrabarti et al., 2002).

2. Tác dụng trên sự dung nạp glucose và trên tăng ghicose huyết do dùng liều cao glucose

       Các cao của rễ dó tròn được chiết bằng ethanol, ethylacetat hoặc butanol có tác dụng làm  hạ glucose huyết khi cho chuột cống trắng uống với liều 250 mg/kg trên mô hình gây tăng glucose huyết bằng dùng liều cao glucose cho chuột. Trong ba loại cao nghiên cứu, cao butanol có tác dụng chống tăng glucose huyết mạnh nhất và mức độ tác dụng tương đương với glibenclamid, là một thuốc hiện vẫn được dùng để điều trị đái tháo đường típ 2 (Venkatesh et al., 2004).

3. Tác dụng làm hạ và chống tăng glucose huyết

     Tác dụng làm hạ glucose huyết của cao nước chiết từ vỏ cây dó tròn đã được nghiên cứu trên chuột cống trắng có glucose huyết bình thường và tác dụng chống tăng glucose huyết đã đưọc nghiên cứu trên chuột bị đái tháo đường do streptozotocin. Ở chuột bình thường, cao vỏ cây dó tròn với liều 100 và 200 mg/kg cho uống, làm giảm mức glucose huyết 47 - 67mg/100ml máu, có ý nghĩa thống kê với P < 0,001 sau khi uống cao nước vỏ cây được 2 giờ.

      Ở chuột bị đái tháo đường (bị tăng glucose huyết) do streptozotocin, cao nước vỏ cây dó tròn làm giảm glucose huyết 68 - 105mg/100 ml máu (P < 0,001) sau 21 ngày liên tiếp cho chuột uống cao với liều hàng ngày 100 và 200 mg/kg. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cao chiết nước của vỏ cây dó tròn có tác dụng làm giảm glucose huyết mạnh ở cả chuột có glucose huyết bình thường và chuột bị đái tháo đường do streptozotocin (Kumar et aL 2006a).

4. Tác dụng trên ghicose huyết và enzym gan

     Đã nghiên cứu tác dụng của cao khô chiết nước vỏ cây dó tròn trên glucose huyết và trạng thái oxy hoá trong huyết tương của chuột cống trắng bị đái tháo đường do streptozocin để đánh giá vai trò của enzym gan trong đái tháo đường thực nghiệm. Cao vỏ cây dó tròn dùng uống với liều 100 và 200 mg/kg cho chuột cống trắng bị đái tháo đưòng do streptozocin làm tăng thể trọng chuột, tăng hoạt tính hexokinase trong gan có ý nghĩa so với lô chuột gây đái tháo đường mà không dùng thuốc. Đồng thời làm giảm có ý nghĩa các enzym glucose - 6 - phosphatase trong gan phosphatase acid, phospliatase kiềm và lactat dehydrogenase trong huyết thanh. Như vậy, cao dó tròn có tác dụng làm hạ glucose huyết và tác dụng bảo vệ gan, cải thiện được các tổn thương hoá sinh, đặc biệt là các enzym ở chuột cống trắng bị đái tháo đường do streptozocin (Kumar, 2006b).

5. Tác dụng chống co thắt hồi tràmg chuột lang cô lập

    Quả dó tròn thường được chỉ định dùng trong hệ thống y học cổ truyền Ấn Độ, đặc biệt là hệ Ayurveda để điều trị rối loạn tiêu hoá. Do đó, tác dụng chống co thắt đã được nghiên cứu in vitro trên hồi tràng chuột lang cô lập, dùng các tác nhân gây kích thích sự co bóp hồi tràng là acetylcliolin, histamin và BaCN. Nồng độ nước sắc quả dó tròn gây ức chế co bóp 50% (IC50) của mỗi tác nhân gây tăng co bóp đã được xác định, có so sánh với tác dụng chống co bóp hồi tràng của atropin hoặc diplienhydramin liydroclorid. Kết quả chỉ rằng, quả dó tròn có tác dụng chống co bóp hồi tràng chuột lang cô lập rất tốt (Polioclia et al„ 2001).

     Bhakuni et al. đã nghiên cứu tác dụng của cao khô toàn cây dó tròn trên sự co bóp của hồi tràng chuột lang cô lập theo phương pháp trên và cũng đã thu được kết quả tương tự (Bliakimi et al..  1969, II: 250 - 262]. Cách chiết cao khô được tiến hành như điểm 7 "Thử độc tính cấp" ở dưới đây.

6. Tác dụng gây độc tế bào

    Cucurbitacin B và isocucurbitacin B được phân lập từ vỏ cây dó tròn có tác dụng gây độc tế bào (cytotoxic). Đây là thí nghiệm sàng lọc đầu tiên để nghiên cứu một thuốc chữa ung thư (Bean et al., 1985).

7. Thử độc tính cấp

     Cao khô toàn cây dó tròn được tiêm phúc mạc cho chuột nhắt trắng với liều 1000 mg/kg, chuột không chết. Chế cao khô bằng cách lấy toàn cây dó tròn, chặt nhỏ, phơi khô, nghiền thành bột thô, chiết bằng ethnol 50%. Dịch chiết đem bốc hơi cách thuỷ, sau đó cô dưới áp lực giảm đến khô [Bhakuni et al., 1969, II: 250].

 Tính vị, công năng

    Rễ, vỏ rễ và vỏ thân cây dó tròn có vị nhạt, hơi đắng, tính bình; có công năng giải biểu, lý khí, bình vị, giảm đau. Rễ và vỏ cây đều có công năng long đờm, làm dịu và săn da; quả cũng làm dịu và săn da. Theo sách "Toàn quốc Trung thảo dược hội biên", dó tròn vị cay, hơi đắng, tính ấm, có công năng lý khí, chi thống, được dùng trị cảm mạo phát nhiệt, viêm dạ dày mạn tính, loét dạ dày, ruột [TDTH, 1993,1: 1290].

Công dụng

      Rễ, vỏ rễ (rễ to dùng vỏ), vỏ thân hoặc quả cây dó tròn được dùng chữa viêm dạ dày mạn tính hoặc loét dạ dày, ngày dùng 12 - 20g, sắc nước uống. Để chữa rối loạn tiêu hoá sinh đau bụng, dùng rễ và vỏ như trên, có thể dùng lá dó tròn 20g (hoặc 40g tươi), sắc lấy nước uống.

      Ở Thái Lan, người ta dùng vỏ thân và rễ làm thuốc lợi tiêu hoá; quả được dùng trị đau dạ dày, đau cơ, viêm gan, chống đầy hơi, trừ tiêu chảy, lỵ và làm thuốc long đờm. Ở Indonesia, quả được dùng chữa đau bụng, chống co giật; gỗ được sắc uống để chống giun, chữa đau bụng, viêm miệng áp-tơ [Med. herb index, 1995: 77].

     Ở Trung Quốc, dó tròn cũng được dùng chữa viêm dạ dày mạn tính, loét dạ dày, cảm mạo nóng sốt [TDTH. 1993, I: 1290], Ở Ấn Độ, dó tròn rất hay được dùng để chữa nhiều bệnh khác nhau: Quả và hạt dó tròn có tác dụng làm dịu và săn se, được dùng chữa đau tai, đau bụng, quặn ruột, đầy hơi, đặc biệt là cho trẻ em và chữa lỵ mạn tính; rễ, vỏ rễ và vỏ thân để chữa long đờm, làm dịu, săn se nên cũng được dùng để chữa kiết lỵ, tiêu chảy, chống tiết sữa và cảm cúm; dịch rễ tươi để chữa đái tháo đường, viêm mủ màng phổi (empyema), đau dạ dày, rắn cắn [Chopra, 2001: 131: Srivastava, 1989: 68; Nadkarni, 1999: 615]; nhưng có tài liệu lại nêu dó tròn không có tác dụng trên lỵ amip [Perry et al„ 1980: 341] và không có tác dụng chữa rắn độc cắn [Kirtikar et al„ 1998:371].

 Bài thuốc có dó tròn

1. Chữa đau dạ dày, viêm loét dạ dày tá tràng 

     Rễ cây dó tròn, ba chạc, rễ hoàng lực (Zanthoxvlum nitidum DC) mỗi vị 16g, sắc lấy nước uống [Lê Trần Đức, 1997: 523].

2. Chữa đau tai có dịch tai chảy ra, loét lai

   Hạt dó tròn được tán thành bột mịn trộn thật kỹ với dầu thầu dầu tinh khiết, lấy dịch trong nhỏ vào tai [Nadkarni, 1999: 615]. 

Dó Tròn 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC