Vị thuốc vần D

Dưa Chuột Dại

02:11 06/07/2017

Solena amplexicaulis (Lamk.) Gandhi in Saldanha et Nichols.

Tên đồng nghĩa:  Solena heterophylla Lour., Melothria heterophylla (Lour.) Cogn.

Tên khác:             Hoa bát, lão thử qua, dưa dại, củ nhang, cầu qua dị diệp.

Tên nước ngoài:  Wild cucumber, creeping cucumber (Anh), concombre sauvage (Pháp). 

Họ:                        Bí (Cucurbitaceae)

Mô tả

     Cây thảo leo, sống nhiều năm, đài 2 - 3m. Thân có cạnh và có rãnh, nhẵn hoặc gần nhẵn. Lá rất đa dạng: hình bầu dục có răng hoặc khía tai bèo, hình bầu dục có thuỳ rộng hoặc hình bầu dục - thuôn có răng hoặc xẻ 3 - 5 thuỳ sâu, có thuỳ gần bằng nhau hoặc không bằng nhau; hoặc hình mác có tai choãi ra, hoặc song song, mép nguyên hoặc có răng, đầu nhọn, gân toả hình chân vịt; cuống dài khoảng 1 cm, nhẵn; tua cuốn đơn, dài.

     Cụm hoa đơn tính; cụm hoa đực mọc ở kẽ lá thành ngù hoặc tán, gần như không cuống, hoa nhỏ, đài hình chuông, nhẵn, tràng 5 cánh, hình tam giác, nhị 3, chỉ nhị dài hơn bao phấn, đính ở gốc đài, bao phấn hình tròn, đáy hoa còn vết tích của nhụy; cụm hoa cái có bầu thuôn hẹp, 3 nhị lép hình chỉ nhẵn, vòi nhụy hình cột, đầu nhụy có 3 thuỳ. 

     Quả thuôn, dài 4 - 5 cm, dày 2 - 2,5 cm, gần như có cạnh, khi chín màu đỏ; hạt nhiều, gân hình cầu, hơi dẹt, nhẵn bóng.

Phân bố, sinh thái

      Solena Lour, là một chi nhỏ trong họ Cucurbitaceae, ở Việt Nam chỉ có một loài dưa chuột dại trên. Cây phân bố rất rải rác khắp các tỉnh từ vùng núi thấp xuống vùng trung du và đồng bằng. Trên thế giới, cây có ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia và cả Sri Lanka.

      Dưa chuột dại là cây một năm, ưa ẩm, ưa sáng và hơi chụi bóng. Cây thường leo lên các cây bụi, cỏ cao ở ven rừng, bờ nương rẫy, chân đồi (nơi gần nguồn nước) và trong các lùm bụi quanh làng. Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân, hè và ra hoa quả ngay trong mùa hè hoặc đầu mùa thu. Tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt.

Bộ phận dùng

     Rễ và toàn cây.

Thành phần hoá học

     Dưa chuột dại chứa hỗn hợp các acid lignoceric, tricosanoi.c và behenic [Rastogi and Mehrotria, Compendium of Medicinal Plants, II, 1999, 36].

Tác dụng dược lý

      Tác dụng chống lão hoá da do chiếu tia tử ngoại: Các protein cơ bản (khuôn protein) của enzym metalloproteinase - 1 (MMP - 1: matrix metalloproteinase - 1) đóng một vai trò quan trọng trong quá trình lão hoá. Khi chiếu tia tử ngoại trên da người sẽ gây thoái biến protein khuôn của MMP - 1 ở nguyên bào sợi (fibroblast) của da người, do đó ức chế enzym và tăng sự lão hoá da. Để phát triển một mỹ phẩm chống lão hoá mới từ nguồn nguyên liệu tự nhiên, rễ của dưa chuột dại đã đưọc lựa chọn là do vị thuốc này có tác dụng chống oxy hoá và ức chế sự thoái biến MMP - 1.

a) Đối tượng nghiên cứu

     Hai hợp chất là 1, 2, 4, 6 - tetra - o - galloyl - ß - (D) - glucopyranose (1) và acid 3, 4, 5 - trihydroxy - benzoic (2) đụ-ọc phân lập từ rễ củ dưa chuột dại. Trước hết rễ củ được chiết bằng ethanol, cất thu hồi dung môi rồi cô áp suất giảm đến cao. Dùng ethyl acetat để chiết lấy phân đoạn tan trong ethyl acetat từ cao, Sau đó phân lập lấy hai chất (1) và (2).

b) Phương pháp nghiên cứu 

1. Phương pháp dọn gốc DPPH (1, 1 - diphenyl - 2 - picryihydrazyl) in vitro trong môi trường methanol;

2. Phương pháp dọn gốc Superoxyd trong hệ xantlũn - xanthinoxydase;

3. Dùng nguyên bào sợi da người chiếu tia tử ngoại (UV) để gây thoái biến MMP - 1. Thí nghiệm dùng hai lô: một lô đối chứng và lô có chất thử (1) và (2). Xác định MMP - 1 để xem thuốc có ức chế sự thoái biến MMP - 1 không. Đồng thời xác định cả RNA thông tin (mRNA) để xem thuốc có ảnh hưởng đến sự tạo thành MMP - 1 không.

c) Kết quả: Các hợp chất ( 1 ) và (2) có tác dụng chống oxy hoá, biểu hiện ở nồng độ dọn gốc tự do 50% (SC50: scavenging concentration) khá nhỏ. SC50 của chất (1) và (2) trên gốc DPPH theo thứ tự là 3,9 microM và 13,3 microM; còn trên gốc Superoxyd của hệ xanthin - xanthinoxydase theo thứ tự là 4,3 microM và 4,0microM. Các hợp chất ( 1 ) và (2) có tác dụng ức chế sự thoái biến MMP - 1 phụ thuộc vào liều, nhưng không ức chế mRNA của MMP - 1.

d) Kết luận: Chất (1) và (2) ức chế có ý nghĩa sự thoái biến MMP - 1 ở mức độ protein và có tác dụng chống oxy hoá mạnh. Do đó, các chất này có thể có ích trong việc chế tạo một thuốc chống lão hoá mới dùng bảo vệ da. Tuy nhiên, đây mới là các thí nghiệm in vitro, cần phải được kiểm tra bằng các thí nghiệm in vivo (Clio YH et al.. 2006).

Tính vị, công năng

    Toàn cây dưa chuột dại vị ngọt, đắng, hơi chát tính mát có công năng tiêu viêm, trừ đờm, lợi tiểu tiêu sưng. Rễ củ vị ngọt, đắng, tính hàn. có công năng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, tán kết ứ. Sách "Trung thảo dược học" ghi: Rễ của dưa chuột dại vị ngọtt, đắng, tính hơi hàn; sách "Sinh thảo dược tính bị yếu" ghi: Vị đắng, tính hàn; sách "Nam Ninh Thị dược vật chí" ghi: Vị cay, đắng tính hàn; có công năng thanh nhiệt giải độc, hoá đàm, lợi thấp, tiêu thũng, chi lỵ [TDTH, 1996, II: 660].

Công dụng

     Dưa chuột dại thường được dùng để chữa đau họng, sưng yết hầu, viêm tuyến mang tai; viêm đường tiết niệu, viêm tinh hoàn; đau mắt, viêm kết mạc cấp; lupút ban đò, thấp khớp. Liều dùng 15 - 30g sắc nước uống.

    Để chữa đau họng, viêm đường tiết niệu, dùng rễ củ dưa chuột dại, rửa sạch, phơi khô, nghiền thành bột, mỗi lần uống 3 - 6g. Ngày 2- 3 lần.

   Để chữa viêm mủ da, eczema, bỏng, rắn độc can, lấy rễ củ dưa chuột dại 15g sắc uống. Đồng thời, lấy lá tươi, rửa sạch, giã nát, đắp lên chỗ tổn thương hoặc nấu nước rửa.

    Để chữa đau bụng tiêu chảy, lấy rễ củ dưa chuột dại 15g sắc hoặc tán bột uống. Có thể dùng tươi 20 - 30g, nhai rồi nuốt nước. Củ và lá còn được dùng làm thuốc chữa ho, phù thũng,  vàng da.

  Ở Ấn Độ, rễ củ dưa chuột dại đưọc dùng chữa di tinh, khó đái, bệnh lậu. Lá làm diu, dịch lá bôi chữa viêm da hoặc các chồ da bị trầy sát. Hạt để tẩy. Đe clũra di tinh, lấy dịch rễ củ tươi, trộn với thìa là {Anethuni graveoìens L.), đường, hoà trong sữa lạnh rồi uống ngày một lần (Kirtikar et al„ 1998: 1162] [Chopra et al.. 2001: 164]. Ở Indonesia, quả dưa chuột dại cũng dùng để ăn [Medicinal herb index, 1995]; ở Campuchia, hạt được dùng để tẩy, rễ cũng được coi như thuốc tẩy [Perry et al.. 1980: 116].

Dưa Chuột Dại 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC