Vị thuốc vần D

Dung

02:25 18/05/2017

Symplocos laurina (Retz) Wall, ex G. Don

Tên đồng nghĩa: Symplocos spicata Roxb.

Tên khác: Dung sạn, cây lượt, du đất.

Tên nước ngoài: Lodh tree, lotur bark, chunga (Anh).

Họ: Dung (Symplocaceae).

Mô tả

Cây gỗ to, có thể cao đến 15-18m. Thân cành mọc ngang, hình trụ, vỏ màu xám. Lá mọc so le, dày và dai, hình bầu dục hoặc thuôn, dài 8-18cm, rộng 3,5 - 6cm, gốc tù hoặc tròn, đầu thuôn dài thành mũi nhọn, mép có răng cưa, khi non có lông, sau nhẵn; gân lá nổi rất rõ ở mặt dưới; cuống lá dài 1 -2cm.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá gần ngọn thành chuỳ bông, phân nhánh từ gốc, dài 7-9cm; hoa nhiều, màu trắng, vàng hoặc lục, rất thơm; lá bắc hình tam giác rộng; đài nhẵn có ống chia 5 răng; tràng 5 cánh hẹp, rời nhau; nhị 40-50 màu trắng, không bằng nhau; bầu 3 ô.

Quả hình cầu, có cạnh, đường kính 6mm, màu hồng, có đài tồn tại ở đỉnh; hạt 1-3.

Mùa hoa quả : tháng 5-8.

Dung và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Symplocos Jacq. gồm các loài cây bụi và cây gỗ nhỏ phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á và châu Đại Dương. Một số loài là tổ thành quan trọng trong các quần hệ thứ sinh nhân tác.

Ở Việt Nam chi này có 35 loài. Theo Võ Văn Chi, 1997 có tới 9 loài được làm thuốc, với tên gọi chung là "Dung". Trong số đó, loài dung được đề cập ở đây có thể là loài đặc hữu Việt Nam. Cây phân bố rải rác ở các tỉnh vùng núi, từ Thanh Hoá, Nghệ An trở vào và thường gặp nhiều hơn ở các tỉnh Tây Nguyên. Độ cao tới 1000m.

Cây ưa sáng, thường mọc ở rừng thứ sinh (sau khi đã bị khai thác hết cây gỗ lớn) hoặc ở ven rừng nguyên sinh. Đôi khi cây còn sót lại ở bờ nương rẫy. Cây ra hoa quả nhiều, nhưng chưa quan sát được hiện tượng tái sinh tự nhiên.

Bộ phận dùng

Rễ, lá và vỏ thân.

Thành phần hoá học

Vỏ thân cây dung chứa một glycosid (chất này đem thuỷ phân cho D - glucose và pelargonidin).

Lá chứa steroid, terpen, saponin.

Trong cây dung còn chứa glucosid 3 - monogluco furanosid của 7 - 0 - methylleucopelargonidin.

Tác dụng dược lý

Cao chiết với cồn 50° của cây dung trừ rễ có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương và làm giảm thân nhiệt ở chuột nhắt trắng. Một phân đoạn kết tinh từ vỏ cây dung ức chế sự phát triển các vi khuẩn : Staphylococcus aureus, Escherichia coli, các nhóm vi khuẩn ruột và lỵ, và làm giảm tần số và cường độ co bóp in vitro của tử cung mang thai và không mang thai của một số loài động vật.

Một phân đoạn khác chiết từ vỏ cây dung, ngoài tác dụng trên tử cung, còn có tác dụng chống co thắt trên những phần khác nhau của đường dạ dày ruột và có thể bị đối kháng bởi atropin. Một trong những chất có màu là chất mạnh nhất, có tác dụng ức chế trên tim động vật lưỡng cư, trên huyết áp chó và tác dụng gây giãn cơ trơn ruột thỏ. Chất glycosid 3- monoglucofuranosid của 7-0-methyl leucopelargoniđin có tác dụng làm săn và có thể chịu trách nhiệm về những tác dụng chữa bệnh của vỏ cây dung. Đã phân lập được từ cây dung một glvcosid mới có tác dụng chống phân huỷ fibrin.

Nước sắc lá dung có tác dụng ức chế trực khuẩn gram-âm và tụ cầu khuẩn được áp dụng thử nghiệm điều trị bỏng, đã làm lành các vết bỏng nhiễm khuẩn làm vết bỏng khô, không có mùi, chóng lên da non. Đã áp dụng thử nghiệm nước sắc và sirô lá dung chữa đau dạ dày đa toan dịch vị đạt kết quả tốt.

Một bài thuốc gồm vỏ cây dung, hồ tiêu, tất bát, đàn hương, bạch hoa xà, củ gấu và một số dược liệu khác chế thành một đồ uống lên men, được dùng trong y học cổ truyền Ấn Độ để kiềm chế chứng nghiện rượu. Thử nghiệm về hiệu quả chữa chứng nghiện rượu của bài thuốc này trên chuột cống trắng được cho uống ethanol 15° tuỳ thích cho thấy có sự giảm lượng tự ý uống ethanol. Những thử nghiệm về thần kinh cho thấy có sự cải thiện về thần kinh và có sự phục hồi của những biến đổi về điện não đồ và điện tâm đồ do rượu gây nên. Bài thuốc có tác dụng hiệu chỉnh biến đổi về mỡ ở gan và những dấu hiệu về chảy máu, về sự huỷ myelin và về chứng nề lớp Malpighi nhận xét thấy ở chuột cống trắng được cho uống ethanol.

Tính vị, công năng

Rễ dung có vị ngọt, nhạt, tính mát, có tác dụng hạ sốt, tiêu khát, giảm đau, làm săn. Lá dung có vị chua, ngọt, có tác dụng trợ tiêu hoá, chữa đau bụng, tiêu chảy.

Công dụng

Nhân dân ở nhiều vùng đã dùng lá dung làm chè uống cho tiêu cơm, chữa đau bụng, tiêu chảy.

Lá dung được dùng chữa đau dạ dày đa toan, ngày dùng 15-30g lá khô, sắc uống. Lá dung cũng được dùng trị bỏng bằng cách rửa sạch vết bỏng, tẩm nước sắc lá dung vào băng gạc, đắp ngày một lần.

Rễ dung có tác dụng giải cảm sốt, tiêu khát, giảm đau, chữa sốt rét cơn và đau lưng gối. Ngày dùng 10- 20g vỏ rễ khô, thái nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống một lần. vỏ rễ nướng hơi cháy, giã nhỏ, sắc uống chữa phụ nữ khi đẻ bị tích máu tử cung gây đau bụng.

Trong y học dân gian Ấn Độ, vỏ dung có tác dụng làm săn được dùng điều trị tiêu chảy, kiết lỵ, đau bụng, bệnh gan và phù, viêm mắt và viêm kết mạc. vỏ dung còn được dùng để diều trị chứng chảy máu lợi, tiểu tiện ra dưỡng trấp, lậu, rong kinh và những rối loạn tử cung khác. Mỗi lần uống lg, ngàv 3-4 lần, dưới dạng bột hay thuốc sắc. Còn dùng nước sắc vỏ dung để rửa vết loét, vỏ dung có trong thành phần một bài thuốc dân gian của Ấn Độ trị rối loạn về tiết niệu và phù. Lá dung tươi giã nát, nấu với đầu, đắp chữa bệnh về da đầu.

Bài thuốc có dung

Chữa đau dạ dày. Lá dung 120g; hương phụ tứ chế 60g, mai mực sao vàng 40g, nam mộc hương 40g, kê nội kim sao vàng 20g. Tất cả tán thành bột trộn đều. Ngày uống 2 lần, mồi lẩn 8g với nước đun sôi đổ nguội vào lúc đói, trước bữa ăn 1 giờ.

Dung 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC