Vị thuốc vần D

Dướng

04:26 18/05/2017

Broussonetia papyrifera (L.) L'Hérit. ex Vent.

Tên khác: Rau ráng, câu thụ, cây rát, chử đào thụ, pắc sa (Tày), sa lè (Thái), điểng đủ (Dao).

Tên nước ngoài: Paper-mulberry (Anh), mûrier à papier (Pháp).

Họ: Dâu tằm (Moraceae).

Mô tả

Cây to, cao 8-10m hay hơn. Thân có vỏ ráp. Cành mọc toả rộng, cành non có lông tơ mềm, màu lục nhạt, cành già nhẵn, màu xám. Lá mọc so le, hình trứng, gốc tù hoặc tròn, đầu thuôn nhọn, chia 3 thuỳ ở lá non và nguyên hoặc có thuỳ nhỏ ở lá già, dài 6- 15cm, rộng 5-12cm, mép khía răng nhỏ, mặt trên có lông ngắn, ráp, mặt dưới có lông mềm, dính; 3 gân toả từ gốc; cuống lá đài, có lông mềm; lá kèm nhỏ, sớm rụng.

Hoa đơn tính, khác gốc, phủ đầy lông; cụm hoa đực mọc thành bông dài ở đầu cành; lá bắc ngắn hơn bao hoa có lông ráp, 4 lá đài, 4 nhị xếp đối điện với đài; cụm hoa cái hình cầu, mọc ở cuối cành, lá bắc có lông, đài 3 - 4 thuỳ; bầu hơi dẹt. Quả phức, hình tròn, nạc, khi chín màu đỏ; hat det, nhăn nheo.

Mùa quả : tháng 5-8

Dướng và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Broussonetia L' Hérit. có 3 loài trên thế giới, phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á. Ở Việt Nam, có cả 3 loài này, trong đó, 2 loài được dùng làm thuốc. Loài dướng kể trên có ở một số nước Đông Dương, Thái Lan, Malaysia và phía nam Trung Quốc. Cây mọc ở Ấn Độ có nguồn gốc do nhập nội.

Dướng là loài cây khá quen thuộc, phân bố rộng rãi khắp nơi, từ vùng núi cao dưới 1000m đến vùng trung du, đồng bằng và hải đảo. Cây ưa sáng, mọc nhanh và có thể sống được trên nhiều loại đất. Cây mọc từ hạt ở vùng Hà Nội, sau 4-5 năm có thể cao tới 5m và có nhiều hoa quả. Hoa thụ phấn nhờ côn trùng và gió. Quả chín có vị ngọt, là thức ăn của chim và nhiều loại gặm nhấm. Hạt giống qua phân của các loại động vật này phát tán khắp nơi. Từ thời cổ xưa, người Trung Quốc và Nhât Bản đã sử dụng vỏ của các loại dướng để làm giấy. Lá non được đồng bào vùng Tây Bắc nước ta dùng làm rau nuôi lợn, trâu bò...

Cách trồng

Dướng được trồng nhiều nơi để làm hàng rào, lấy lá, quả, vỏ cây để làm thuốc, lá cho lợn ăn nhất là khi lợn đẻ.

Cây được nhân giống bằng hạt. Hạt chín vào tháng 9, 10, 11, quả rụng xuống đất mọc thành cây. Có thể đánh cây con đi trồng hoặc gieo hạt vào tháng 2-3.

Đất nào cũng trồng được dướng. Nhân dân ta thường trồng dướng bên bờ ao, quanh vườn, nơi có độ ẩm cao. Dướng dỗ trồng, dễ sống, chỉ cần đào hố, đặt cây, lấp đất và giữ ẩm trong vài ngày. Khoảng cách trồng giữa các cây thường từ 6-8m. Cây không cần chăm sóc.

Bộ phận dùng

Quả dướng được gọi là chử thực tử, thu hái vào mùa hè lúc quả chín, rửa sạch phơi khô. Nhựa cây, vỏ rễ , vỏ cây thu hái quanh năm. Lá thu hái vào mùa hè và mùa thu, dùng tươi hoặc phơi, sấy khô.

Thành phần hoá học

Quả dướng chứa saponin 0,51%, acid p.coumaric, vitamin B, dầu béo.

Hạt có dầu 31,7%, phần không xà phòng hoá 2,67%, chứa các acid béo bão hoà 9%, acid oleic 15% và linoleic 76% (Trung dược từ hải tập III, trang 744). Trong quả còn chứa 4,75% lignin, calci carbonat, acid cerotic, các men lipaze, proteaze, zymaze (Đỗ Tất Lợi. Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, 1999 trang 658).

Vỏ cây dướng có các isoprenauron : Brousoauron A (I) [5 - Y - dimethylallyl) - 6 - 3',4' trihydroxy auron và isopren-flavan : Brousso flavan A (II) và các chất acetat butyrospermol, erythrinacinate, kazinol A,B, brousochaleon A,B (C.A 122.1995 76605 j)

Từ vỏ rễ cây dướng, người ta đã tách và xác định cấu trúc các chất brousoflavonol C,D E,F và các chất squalen, octacosan - 1 - ol, acid lignoceric, acid 4'hydroxy-cis-cinamic, octacosyl ester và (-) marmesin và hỗn hợp của 4'hydroxy trans cinamat.

Ngoài ra, còn có chất 5 [3 - (2,4 dihydroxyphenyl propyl -3-4 bis (3 methyl 2 butenyl) 1, 2 benzenediol (III)

(CA, 113.1990 55842h; CA. 126,1997 255266d )

Tác dụng dược lý

Cao chiết với cồn 50° của cả cây dướng, trừ rễ có tác dụng làm giảm huyết áp trên huyết áp bình thường của động vật thí nghiệm.

Tính vị, công năng

Quả dướng có vị ngọt, tính mát, vào các kinh can, tỳ, thận, có tác dụng bổ hư lao, mạnh gân cốt, sáng mắt, bổ thận, lâu già. Lá vỏ cây có tác dụng lợi tiểu, tiêu phù.

Công dụng

Quả dưóng dùng làm thuốc bổ thận, bổ gân cốt, làm sáng mắt, chữa cảm ho, thuỷ thũng, mắt mờ, dùng riêng hay phối hợp vối phục linh hoặc đại phúc bì. Ngày dùng 8-16g, dạng thuốc sắc.

Lá dướng được dùng làm thuốc nhuận tràng cho trẻ em, nấu nước xông khi bị cảm, làm thuốc lợi tiểu , tiêu phù. Lá dưóng tươi 50-100g, giã nát vắt lấy nước uống, hay sắc uổng chữa lỵ.

Vỏ thân cây dướng chữa lỵ, chảy máu tử cung, với liều 8-16g, dạng thuốc sắc. Nhựa mủ của cây đắp lên các vết rắn cắn, chó cắn, ong đốt.

Bài thuốc có dướng

1. Chữa suy nhược, chân phù, dùng cho người già yếu (Diệp Quyết Tuyền)

Quả dướng 12g, phục linh l0g, đỗ trọng lOg, câu kỷ tử lOg, bạch truật lOg, ngưu tất 8g, tiểu hồi hương 3g. Sắc uống, mỗi ngày một thang.

2. Chữa khí lực suy tổn, cơ thể gầy yếu, chân tay nhức mỏi, di tinh, đái đục :

Quả dưóng, ba kích, hoài sơn, ngưu tất, viễn chí ngũ vị tử, thục địa, đỗ trọng, xương bồ, mỗi vị 12g Sắc uống hay làm viên uống.

3. Chữa phù toàn thân:

a. Lá dướng nấu cao, cô đặc. Mỗi lần uống một chén hoà với nước nóng, ngày 3 lần.

b. Vỏ thân cây dướng (cạo bỏ lớp thô ở ngoài) mộc thông, phục linh hay ý dĩ, mỗi vị 12g; vỏ rễ dâu vỏ quýt để lâu, mỗi vị 4g; gừng 3 lát. sắc uống. (Nam dược thần hiệu)

4. Chữa lỵ: Lá dướng tươi (bánh tẻ) 20g, giã nhỏ, thêm nước, gạn lấy 10ml; thân rễ cây seo gà 20g, thái nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml. Trộn 2 nưóc lại, uống làm một lần trong ngày. Uống liền .trong 5 ngày.

5. Chữa rong kinh : Vỏ thân cây dướng (lấy lớp trắng), kinh giới sao, mỗi vị 12g. Sắc uống (Nam dược thần hiệu).

6. Chữa chứng buồn ngủ: Lá dướng một nắm sắc uống (Hành giản trân nhu).

 

 

Dướng 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC