Vị thuốc vần Đ

Đương quy

10:07 05/05/2017

Còn gọi là tần quy, vân quy. Tên khoa học Angelica sinensis (Oliv.) Diels, (Angelica poỉymorpha Maxim, var. sinensis Oliv). Thuộc họ Hoa tán apraceae (Umbelliferae). Đương quy (Radix Angelicae sinensis) là rễ phơi hay sấy khô của cây đương quy. Quy là về, vì vị thuốc này có tác dụng điều khí, nuôi huyết, làm cho huyết đang loạn xạ trở về chỗ cũ do đó có tên như vậy.

A. Mô tả cây

Đương quy là một loại cây nhò, sống lâu năm, cao chừng 40-80cm, thân màu tím có rãnh dọc. Lá mọc so le, 2-3 lần xẻ lông chim, cuống dài 3-12cm, 3 đồi lá chét; đôi lá chét phía dưới có cuống đài, đôi lá chét phía trên đỉnh không có cuống; lá chét lại xẻ 1-2 lần nữa, mép có răng cưa, phía dưới cuống phát triển dài gần 1/2 cuống, ôm lấy thân. Hoa rất nhỏ màu xanh trắng hợp thành cụm hoa hình tấn kép gồm 12-40 hoa. Quả bế có rìa màu tím nhạt. Ra hoa vào tháng 7-8 ( Hình 23, Hm 3,1) .

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Đương quy hiện nay ta vẫn phải nhập của Trung Quốc và Triều Tiên. Ta đã nhiều lần thí nghiệm trồng nhưng mới thành công trong phạm vi nhỏ ở Sapa tỉnh Lào Cai, chưa phổ biến rộng rãi.

Nhưng mới đây chúng ta đã trồng thành công đương qui ở vùng đồng bằng quanh Hà Nội do lợi dụng thời tiết lạnh của mùa rét, tuy nhiên chất lượng có khác. Tại Trung Quốc, đương quy được trồng nhiều nhất ở các tinh Cam Túc, Tớ Xuyên, Vân Nam, Thiểm Tây. Hằng năm vào mùa thu gieo hạt, cuối thu đầu đông nhổ cây con cho vào hố ở dưới đất cho qua mùa đông.

Qua mùa xuân lại trồng, đến mùa đông lại bảo vệ. Đến mùa thu măm thứ 3 có thể thu hoạch. Đào rễ vể cắt bỏ rễ con, phơi trong nhà hoặc cho vào trong thùng, sấy lửa nhẹ, cuối cùng phơi trong mát cho khô. Trên thị trường người ta còn phân biệt ra quy đầu là rẻ chính và một bộ phận cổ rễ; quy thân hay quy thoái là phần dưới của rẻ chính hoặc là rễ phụ lớn.

Quy vĩ là rễ phụ nhỏ, Đổng y cho rằng tính chất của mỗi bộ phận có khác nhau, nhưng hiện nay tại Trung Quốc người ta cũng đơn giản bớt đi và phẫn lớn trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu người ta khổng phân biệt nữa. Toàn rễ cái rễ phụ được gọi là toàn quy.

C. Thành phần hóa học

Trong đương quy có tinh dầu. Có tác giả đã xác định tỷ lệ tinh dầu là 0,2%, tinh dầu có tỷ trọng 0,955 ở 15°c, màu vàng sẫm, Trong; tỷ lệ axit tự do trong tinh dầu chiếm tới 40%; thành phần chủ yếu của tình dầu giống tinh dầu của đương quy Nhật Bản (Dược học thông báo, 1954, ưang 432 và Thực vật dược phẩm hóa học của Lâm Khải Thọ, tr. 384).

Trong đương quy Nhật Bản Angelica acutiifoba (Sieb, et Zucc). Kitagawa Ligusticum acutilobum (Sieb, et Zucc), người ta thấy có tinh dầu. Trong tinh dầu thành phần chủ yếu là n- butylidenphtalit C]2H)202 và n-valerophenon O- cacboxy-axit C12Hu03- Ngoài ra còn có n- butylphtalit    becgapten C]2Hg04, sesquitecpen, safrola và một ít vitamin B12.

D. Tác dụng dược lý

Đương quy đã được nghiên cứu về mặt dược lý từ lâu. Sau đây là một số tác dụng chủ yếu.

1.    Tác dụng trên tử cung và các cơ trơn. Trên tử cung. Đương quy có 2 loại tác dung: Một loại gây kích thích và một loại gây ức chế.

2.    Tác dụng trên hiện tượng thiếu vitamin E. Theo Nghê Chương Kỳ (1941. Chinese J. physiol. 16; 373) dùng thức ãn thiếu vitamin E nuối chuột trong 2-5 tháng, 100% chuột bị bệnh thiếu vitamin E với những chứng bệnh ở tinh hoàn; nếu thêm vào thức ăn 5-6% đương quy thì 38% chuột không có những triệu chứng thiếu vitamin E nữa. Các vị thuốc dâm dương hoắc, đan sâm, tục đoạn và xuyên khung cũng có tác dụng tương tự, Nghê Chương Kỳ suy luận rằng nhân dân sở dĩ dùng đương quy làm thuốc an thai phải chăng có quan hệ tới loại tác dụng này.

3.    Tác dụng trên trung khu thần kinh. Theo sự nghiên cứu của một tác giả Nhật Bản (Tửu tinh hòa thái lang, 1933) tình dầu của đương quy có tác dụng trấn tĩnh hoạt động của đại não lúc đầu thì hưng phấn trung khu tủy sống, sau tê liệt, đưa đến huyết áp hạ thấp, nhiệt độ cơ thể hạ thắp, mạch đập chậm lại và có hiện tượng co quắp; nhưng nếu tiêm dưới da thỏ thì các hiện tượng trên không rõ rệt, chỉ thấy liệt hò hấp trước, rổi đến liệt tim.

4.    Tác dụng trên huyết áp và hô hấp. Theo Schmidt. Y Bác An và Trần Khắc Khôi (1924 Chinese Med. J. 38; 362) tinh dầu cùa đương quy có tác dụng hạ huyết áp, nhưng thành phần không bay hơi của đương quy lại có tính chất làm co cơ trơn ờ thành mạch máu làm cho huyết áp tăng cao. Lưu Thiệu Quang, Trương Phát Sơ, Trương Diệu Đức (1935 Trung hoa 3» học tạp chí 21: 611) đã theo dõi tác dụng của tình dầu đương quy trên thỏ, mèo, chó đối với huyết áp và hô hấp thì thấy tùy theo liều lượng lớn, nhỏ tinh dầu tiêm vào mạch máu mà tác dụng có khác nhau.

5.    Tác dụng trên cơ tim. Theo Ngụy Liên Cơ (1950 sinh lý học báo 20 (2); 105-110-Trung văn) 'thì tác dụng trên tim của đương quy giống tác dụng của quinidin. Thành phần chủ yếu có tác dụng này nằm trong phần tan trong ête êtylic.

6.    Tác dụng kháng sinh. Năm 1950, Lưu Quốc Thanh đã báo cáo nước sấc đương quy có tác dụng kháng sinh đối với trực trùng tỵ và tụ cầu trùng.

E. Công dụng và liều dùng

Theo đống y đương quy vị ngọt, cay, tính ôn. Vào 3 kinh tâm, can, tỳ, có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông trong đông y. Nó là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiểu đơn thuốc bổ và trị bệnh khác. Chủ yếu đùng chữa bệnh kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng; trước khi thấy kinh 7 ngày thì uống. Ngày uống 6-15g dưới dạng thuốc sác (chia làm 2 lẫn uống trong ngày) hoặc dưới dạng thuốc rượu mỗi lần 10 ml, ngày uống 3    lần. Uống luôn 7-14 ngày. Còn làm thuốc bổ huyết chữa thiếu máu, chân tay đau nhức và lạnh.

Có thể bạn quan tâm:

>> Đông y hỗ trợ điều trị hiệu quả và phòng tái phát bệnh viêm phần phụ

Đương quy 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC