Vị thuốc vần G

Gừng

02:11 04/05/2017

Còn gọi là khương, sinh khương, can khưcmg.

Tên khoa học Zingiber offcinale Rose.

Thuộc họ Gừng Zingiberaceae. Khương (Rhizoma Zingiberis) là thân rễ của

 A. Mô tả cây

Gừng là một loại cây nhỏ, sống lâu năm, cao 0,60 đến lm. Thân rễ mẫm lên thành củ, lâu dần thành xơ. Lá mọc so le, không cuống, có bẹ, hình mác dài 15 đến 20cm, rộng chừng 2cm, mặt bóng nhẵn, gân giữa hoi trắng nhạt, vò có mùi thơm. Trục hoa xuất phát từ gốc, dài tới 20cm, cụm hoa thành bông mọc sít nhau, hoa dài 5cm, rộng 2-3cm, lá bắc hình trứng, dài 2,5cm, mép lưng màu vàng, đài hoa dài chừng lcm, có 3 răng ngắn, 3 cành hoa dài chòng 2cm, màu vàng xanh, mép cánh hoa màu tím, nhị cũng tím. Loài gừng trồng ít ra hoa

Gừng và tác dụng chữa bệnh của nó

 B. Phân bố, thu hái và chế biến

Gừng được trồng ở khắp nơi trong nước ta để lấy củ ăn và làm thuốc, dùng trong nước và xuất khẩu. Muốn có gừng tươi (sinh khương) thường đào củ vào mùa hạ và thu. cắt bỏ lá và rễ con, rửa sạch là được. Muốn giữ gừng tươi lâu phải đặt vào chậu phủ kín đất lên. Khi dùng đào lên rửa sạch. Mùa đông, đào lấy những thân rẽ già, cắt bỏ lá và rễ con, rửa sạch, phơi khô sẽ được can khương. Ngoài 2 loại gừng trên dùng trong đông y, trên thị trường quốc tế, người ta còn tiêu thụ 2 loại gừng gọi là gừng xám và gừng trắng. Gừng xám là loại củ còn để nguyên vỏ hay cạo vỏ ở những chỗ phẳng, rồi phơi khô. Gừng trắng là loại gừng đã được cạo lớp vỏ ngoài có chứa nhiều nhựa dầu (oléorésine), rồi mới phơi khô. Thường người ta còn ngâm gừng già vào trong nước một ngày, rồi mới lấy ra cạo vỏ. Có khi người ta còn làm trắng bằng canxi hypoclorit, hay ngâm nước vôi hoặc xông hơi diêm sinh (S02).

C. Thành phần hóa học

 Có chất nhựa dầu (5%), chất béo (3,7%), tinh bột và các chất cay như zingeron, zingerola và shogaola. Tinh dầu gừng có tỷ trọng 0,878, tả tuyền, năng suất quay cực -25° ở -5°c, độ sôi 155- 300°. Trong tinh dầu có a camphen, ß phelandren, một cacbua: zingiberen C15H24, một rượu sesquitecpen, một ít xitrala bocneola và geraniola. Nhựa gồm một nhựa trung tính, hai nhựa axit. Zingerola là một chất lỏng sánh, màu vàng không mùi, vị rất cay, độ sôi ở 18mm thủy ngân là 235-240°C. Bản thân chất này không đơn thuần, khi cùng đun sôi với Ba (OH)2 sẽ bị phân giải cho những chất andehyt bay hơi, những chất cay có tinh thể gọi là ãngeron CnH1403 và một chất ở thể

Trong đó: - Zingeron R = - CH3 - Shogaola R = - CH = HC - (CH2)4CH3 - Zingerola R =-CH (OH) (GỤ CH3 n = 3, 4, 5 dầu gọi là shogaola. Shogaoỉa có độ sôi 201-203°c. Zingeron có tinh thể, độ sôi 40-4 l°c, vị rất cay. Căn cứ vào sự hiểu biết hiện nay về cấu tạo hóa học, những chất có cấu tạo ữên đây, trong đó n lớn hem 1 thì đều có vị cay như các chất trong gừng. Do những công thức trên, chúng ta hiểu được tại sao khi ngâm gừng lâu vói một dung dịch 5/ KOH, thì sẽ mất hết tính chất cay.

D. Tác dụng dược lý

Tiêm zingeron vào tĩnh mạch thỏ, thì thần kinh trung khu vận động bị tê liệt, nhưng uống với liều cao không có hiện tượng độc nào, tuy nhiên, con vật kém ăn, nhu động ruột bị ức chế. Khi cho thỏ uống, thì không thấy độc tính, nhưng chó uống thì gây nôn. Năm 1930, H. M. Emig tiêm mạch máu thuổc gừng thì thấy con vật thí nghiệm có hơi thở mau lên, biên độ giảm xuống, mạch nhanh lên, huyết áp tăng cao. Người ta cho rằng các hiện tượng độ là do tinh dầu của gừng gây ra. Chúng ta thấy những thí nghiệm dược lý nêu trên chưa chứng minh những kinh nghiệm dùng gừng trong nhân dân ta.

E. Công dụng và liều dùng

Theo tài liệu cổ: Sinh khương vị cay, tính hơi ôn, vào ba kinh phế, tỳ và vị. Có tác dụng phát biểu tán hàn, ôn trung, làm hết nôn, tiêu đờm, hành thủy giải độc. Dùng chữa ngoại cảm, biểu chứng, bụng đầy trướng, nôn mửa, giải độc bán hạ, nam tinh, cua cá, đờm ẩm sinh ho. Can khương vị cay, tính ôn, bào khương (can khương bào chế rổi) vị cay đắng tính đại nhiệt. Vào sáu kinh tâm, phế, tỳ, vị, thận và đại tràng. Có tác dụng ôn trung tán hàn, hồi dương thông mạch, dùng chữa thổ tả, bụng đau, chân tay lạnh, mạch nhỏ, hàn ẩm xuyễn ho, phong hàn thấp tỳ.

Trong nhân dân, gừng là một vị thuốc giúp sự. tiêu hóa, dùng trong những trường hợp kém ăn, ăn uống không tiêu, nôn mừa đi ỉa, cảm mạo, phong hàn làm thuốc ra mồ hôi, chữa ho mất tiếng. Gừng tươi (sinh khương) dùng với liều 3-6g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha hoặc rượu gừng tươi (mỗi ngày 2-5ml). Gừng khô (can khương) dùng khi bị lanh mà đau bụng, đi ỉa lỏng, mệt lả, nôn mửa. Liều dùng cũng như gừng tươi. Ngoài công dụng làm thuốc, gừng còn tiêu thụ mạnh trên thị trường trong nước và thế giới vì là một thực phẩm, nguyên liệu chế rượu bia (Anh và Mỹ'lại thích loại bia này), mứt gừng, v.v...

Đơn thuốc có gừng

1. Chữa nhức đầu, lạnh bụng, nôn ọe, có đờm: Can khương lOg, trích cam thảo 4g, nước 300ml, sắc còn lOOml, chia nhiều lần uống trong ngày. Thấy đỡ thì uống bớt đi.

2. Đi tả ra nước: Can khương sấy khô tán nhỏ, dùng nước 'Cơm chiên thuốc, mỗi lẩn uống 2-4g.

3. Đi lỵ ra máu: Gan khương thiêu tồn tính. Ngày uống nhiều lần, mỗi lần 2-4g, chiêu bằng nước cơm hay nước cháo.

4. Cảm-cúm, nhức đầu, ho, thân thể đau mỏi: Gừng sống.giã nhỏ, bọc vào mớ tóc rối, tẩm rượu xào nóng đánh khắp người và xát vào chỗ đau mỏi.

5. Chửa nôn mửa: Gừng sống nhấm từng ít một cho đến khi hết nôn.

Trong đông y, người ta cho rằng những người trong ngoài đều nhiệt, vì nhiệt mà đau bụng, vì nhiệt mà thổ huyết thì không dùng được.

Gừng 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC