Vị thuốc vần G

Guột Giang

11:38 11/07/2017

Blechnum orientale L.

Tên khác: Guột lá dừa, dương xỉ lá dừa, ráng dừa đông.

Tên nước ngoài: Blechne (Pháp).

Họ: Guột lá dừa (Blechnaceae).

Mô tả

 Loài khuyết thực vật (dương xỉ), cao 1 - 2m. Thân rễ mọc đứng, phù nhiều vảy dạng sợi, màu nâu bóng. Lá mọc so le, kép lông chim một lần, dài 0,5 - 1,5 m, rộng 20 - 40 cm gồm rất nhiều lá chét không cuống, dài 10-25 cm, rộng 1 cm, hẹp dần về phía đầu lá thành mũi nhọn, mép nguyên, cuống lá kép dài, có vảy ở gốc.

Ô túi bào tử kéo dài thành đường liên tục. Bào tử hình thận, màu vàng nhạt.

Mùa sinh sản: tháng 4-6.

Phân bố, sinh thái

Cây phân bố từ vùng cận nhiệt đới xuống khắp vùng nhiệt đới, bao gồm Ẩn Độ, Trung Quốc, Lào, Việt Nam và nhiều nước khác ở vùng Đông Nam Á.

Ở Việt Nam, guột giang cũng phân bố rộng rãi khắp các tỉnh thuộc vùng núi, độ cao từ 1300m trở xuống đến cả vùng trung du. Guột giang là loại dương xỉ ưa ẩm, hơi chịu bóng. Cây thường mọc thành đám dày, xen lẫn cây bụi, cây gỗ nhỏ và cỏ cao dọc theo các bờ khe suối, ven rừng hoặc các tà ly núi dọc theo đường đi. Guột giang tái sinh tự nhiên chủ yếu bằng bào tử. Ngoài ra, cây còn có khả năng đẻ nhánh khoẻ từ gốc thân rễ.

Bộ phận dùng

Chồi non tươi, thân rễ dùng tươi hay phơi khô. Thành phần hóa học 4 chất lignan: Blechnic, 7 epiblechnic, y epi blechnic và brainic acid đã được phân lập và xác định cấu trúc.

Tác dụng dược lý

1. Tác dụng trên hô hấp

Thí nghiệm đưọc tiến hành trên chó trưởng thành, không phân biệt đực cái, gây mê chó bằng natri penthobarbiton với liều là 30 mg/kg tiêm tĩnh mạch. Nối khí quản vói một trống Marey để ghi hô hấp trên giấy ám khói của một kymograph. Bộc lộ tĩnh mạch đùi để tiêm thuốc. Cao khô toàn cây guột giang được tiêm vào tĩnh mạch đùi với liều 25 mg/kg. Kết quả cho thấy cao làm tăng nhịp thở và biên độ hô hấp [Bhakuri, 1969 II- 252]. Cao guột giang được chế tạo như phần xác định độc tính cấp ở phía dưới.

2. Tác dụng trên tim chuột lang cô lập

Chuột lang cân nặng 400 - 500g được đánh đột ngột bằng một thanh gỗ chắc vào đầu cho chuột chết. Bộc lộ tim có kèm cả một đoạn ngắn động mạch chủ. Rửa sạch máu bằng dung dịch Ringer- Locke. Luồn vào động mạch chủ một canun bằng thuỷ tinh, rồi truyền qua tim dung dịch có sục khí oxygen ở 37°c dưới một áp suất không đổi theo phương pháp Langendorff. Thuốc được tiêm trực tiếp vào dịch truyền. Kết quả thấy biên độ co bóp tim tăng so với trước khi tiêm thuốc [Bhakuni, 1969, II: 252], Cao guột giang được chế tạo như phần xác định độc tính cấp sau đây

3. Xác định độc tính cấp

Thử nghiệm trên chuột nhắt trắng, dùng đường tiêm phúc mạc, đã xác định đưọc liều chết trung bình của cao khô guột giang là LD50 = 600 mg/kg. Cao khô guột giang được chế tạo bằng cách dùng toàn cây, rửa sạch, phơi khô, tán thành bột thô rồi chiết bằng ethanol 50%. Sau đó cô dưới áp suất giảm đến thể tích cao khô [Bhakuni, 1969, II: 252].

Tính vị, công năng

Thân rễ và lá guột giang vị đắng, tính mát; có công năng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, chỉ huyết, hoạt huyết, tán ứ. Cũng có công năng bạt độc, sinh cơ. Tài liệu Trung Ọuổc cũng ghi: guột giang có công năng tiêu thũng, giải độc sinh cơ [TDTH, 1993, I: 1527],

Công dụng

Chồi non của cây guột giang được dùng để hút mủ nhọt mụn; nếu mụn nhọt mới mưng đỏ, chưa làm mù có thể bị tiêu đi; còn được dùng chữa vêt thương sưng tấy, bầm tím. Lấy chồi tươi, rửa sach giã nát, đắp lên chỗ có tổn thương.

Có nơi dùng thân rễ để trị bệnh cảm cúm, viêm màng não, viêm tuyến nước bọt, ban chần, thương hàn, chảy máu cam, thổ huyết, băng huyết; còn được dùng trị giun như giun đũa, giun móc [Võ Văn Chi, 1999: 534]. Tuy nhiên vị thuốc có độc, ít khi được dùng uống mà chỉ dùng ngoài. Sách "Dã sinh dược dụng thực vật đồ giám" (Trung Quốc) ghi: guột giang được dùng ngoài, giã nát đắp để chữa ung thũng đau nhức, để chống độc và sinh cơ [TDTH, 1993, I: 1527],

Bài thuốc có guột giang

Chữa rắn cắn: Chồi cây guột giang tươi, lá vông vang tươi, hai vị bang nhau, rửa sạch, giã nát, đắp lên chỗ rắn cắn đế tiêu nọc độc.

Guột Giang 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC