Vị thuốc vần H

Hạ khô thảo

02:19 24/04/2017

Tên khoa học Brunella (Prunella) vulgaris L. Thuộc họ Hoa môi Lamiaceae. Ta dùng cụm hoa và quả phơi hay sấy khô (Flos Brunellae cum Fructu) cùa câyy hạ khô thảo. Theo người xưa cây này sau ngày hạ chí (mùa hạ) thì khô héo nên gọi là hạ khô thảo (trên thực tế ở nước  ta, mùa hạ cây vẫn tươi tốt).

A. Mô tả cây

Hạ khô thảo là một cây sống dai có thân vuông màu hơi tím đỏ, lá mọc đối, hình trứng hay hình mác dài, mép nguyên hoặc hơi có răng cưa, có ít lông ở thân và lá. Cụm hoa mọc ở đầu cành giống như bông do nhiều hoa có cuống ngắn mọc vòng, mỗi vòng có 5 - 6 hoa. Đài hoa có 2 môi, môi trên có 3 răng, môi dưới có 2 răng, hình 3 cạnh. Cánh hoa màu tím nhạt hình môi, môi trên như cái mũ, môi dưới xẻ ba, thùy giữa rộng hơn. Nhị 2 dài, 2 ngắn, đều thò ra khỏi tràng. Bẫu có bôn ngăn. Vòi nhỏ dài. Quả nhỏ cứng (Hình 39, Hm 11,3).

Cây hạ khô thảo và tác dụng chữa bệnh

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây này hiện nay mới phát hiện được ở Sapa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Hà Giang vào các tháng 4, 5, 6 rất nhiều, sang đến tháng 8 một số đã lụi đi. Đã được khai thác. Trước dãy phải nhập cùa Trung Quốcc. Hiện nay nhiều nơi như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh nói có hạ khô thảo nhưng chưa được xác minh. Vào mùa hạ, khi môt số quả đã chín thì hái cành mang hoa và quả phơi hay sấy khô. Có người dùng cả bộ phận trên mặt đất (tháo) hái vể phơi hay sấy khô để dùng.

C. Thành phần hóa học

Hiện nay hãy còn ít tài liệu nghiên cứu vé cây này. Mới chỉ biết rằng cành mang hoa và quả chứa chừng 3.5% muối vô cơ tan trong nước. Trong số muối vô cơ này, 68% là kali clorua, ngoài ra còn thấy một chất có tính chất ancaloit. Hoạt chất khác chưa rõ, gần đây có tác giả lấy được tờ cây Bruneìla vulgaris L. var. lilacìna Nakai (Nhật Bản dược học tạp chí, 1956, 76, 974) hái vào tháng 6 khi ra hoa, chừng 0,56% chất axit ursolic

D. Tác dụng dược lý

1. Cửu Bảo, Điền Tình Quang và Đảo Thanh Cát (1940, Hòa hán dược dụng thực vật) đã thí nghiệm lấy các muối vô cơ trong nước sắc hạ khô thảo, chế thành thuốc tiêm, tiêm tĩnh mạch thò, lập tức thấy huyết áp hạ xuống, vận động hô hấp tâng lên, tác dụng lợi tiểu rõ rệt như các muối kali khác. Do đó suy ra rằng sò dĩ hạ khô thảo có tác dụng là do lượng muối kali khá cao.

2.Theo báo Y học Liên X?, 1951 (kỳ 6 năm thứ bảy) và Y dược học (quyển 4 kỳ 6, 1951) các chất tan trong nước cùa hạ khô thảo có tác dụng hạ huyết áp lâu dài trên bệnh nhân và làm hết các triệu chứng khó chịu của bệnh cao huyết áp.

3.Có nơi nhân dân Trung Quốc dùng nấu nước uống thay nước trà.

4. Tài liệu cổ nói vị hạ khô thảo có tác dụng chữa loa lịch (lở loét, tràng nhạc, mụn nhọt, dò ỏ ưên đầu) rất có công hiệu.

5. Bản thảo cương mục của Lý Thòi Trân (thế kỷ 16) có kể một trường hợp ông dùng chữa bệnh nhức mắt rất công hiệu như sau: “Có một người con trai đau ờ trong con ngươi, nhức cả bên quãng xương đầu lông mày và sưng đau thêm nửa đầu, dùng hoàng liên nhỏ vào lại càng đau thêm, uống các thứ thuốc khác cũng đều không công hiệu, liền dùng ngải cứu ờ các huyệt quyết âm, thiếu dương tức thời khỏi đau ngay, nhưng cách đó chỉ nửa ngày lại đau, cứ nhùng nhằng như thế tới hơn một tháng, liền dừng hạ khô thảo 2 lạng (80g), hương phụ (củ gấu) 2 lạng (80g), cam thảo 4 đồng cân (16g). Các vị cùng táu hòt, mỗi. 4t \6vvg dồng TUÕ1 (6g) hòa với nước chè, uống khỏi miệng, đau nhức bớt ngay. Tiếp đó chi uống 4-5 lần nữa bênh khỏi hẳn”.

Cùng trong tài liệu đó, Lý Thời Trân có kể một tác giả khác là Lê Sĩ Cư trong bộ sách Giản dị phương nói hạ khô thảo chữa chớng đau mất.

Lâu Toàn Thiện (một tác giả cổ khác) nói: “Hạ khô thảo chữa chứng đau nhức con ngươi, càng về đêm càng đau kịch rất hay”. Chứng đau mắt này nếu đùng vị khổ hàn đắng và lạnh (như hoàng liên) mà nhỏ vào lại càng đau thêm, nhưng dùng hạ khồ thảo rất hay.

E. Công dụng và liều dùng

Tính vị theo đông y: VỊ đắng, cay, tính hàn, không độc, vào hai kinh can và đởm. Có tác dụng thanh can hòa, tán uất kết, tiêu ứ sáng mắt, làm thuốc chữa loa lịch, giải trừ nhiệt độc ở tử cung và âm hộ.

Những bài thuốc đùng hạ khô thảo trong nhân dân

1.Chữa tràng nhạc, mã đao Hạ khô thảo 5 lạng (200g) đun lấy nước đặc uống, uống trước khi ãn cơm 2 giờ. (Bài thuốc trích trong sách “Tiết thị ngoại khoa-Bản thảo cương mục”). Cũng bệnh trên, có thể đùng hạ khô thảo, hương phụ, bối mẫu, viễn chí cùng đun lãý nước đặc uống rất hay, không nên coi thường (sách “Kình nghiệm phương-Sứ« thào cương mục''').

2.Chữa xích bạch đới'. Hạ khô thảo tán nhỏ, mỗi lần uống 8g vớí nước cơm (sách l'Từ thị phương").

3.Chữa tràng nhạc (loa lịch) hạ khô thảo 8g, cam thảo 2g, nước 3 bất (600ml) sắc còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày.

4.Thông tiểu tiện: Hạ khô thảo 8g, hương phụ tử 2g, cam thảo lg, nước 600ml, sắc còn 200ml chia ra 3 lần uống trong ngày.

5.Bị đánh hay bị thương dùng hạ khô thảo tươi tán nhỏ đắp vào vết thương.

Có thể dùng chữa bệnh cao huyết áp với liều 6-15g dưới dạng thuốc sắc.

Hạ khô thảo 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC