Vị thuốc vần H

Hành Biển

09:28 08/05/2017

Hành Biển có tên khoa học Scilla maritima L. {Urginea scỉlla Steinh., Urgỉnea maritima (L.) Baker)

Thuộc họ Hành Alliaceae.

Tên Scilla do chữ Hy lạp Skilla là tên một giống hành ở châu Âu. Urginea do chữ la tinh Ưrgere có nghĩa là dẹt vì hạt cây này dẹt. Maritima chữ la tinh có nghĩa là biển.

Vì cây mọc ở bờ biển. Ta dùng dò thái nhỏ phoi hay sấy khô của cây hành biển với tên Bulbus Scillae. Hành biển là một vị thuốc hiện còn phải nhập, từ năm 1958 chúng tôi đã di thực thành công cây hành biển từ giống lấy ở miền Nam Liên Xô cũ về nhưng chưa phát triển.

A. Mô tả cây

Hành biển là một cây sống dai do một dò to đường kính có thể hơn 15cm, cao 18-20cm, riêng dò có thể cân nặng 3kg, có khi tói 7-8kg. Lá vảy phía ngoài mỏng, khô màu nâu, vảy giữa dày, mẫm, nhầy, vảy ở giữa mịn hơn, ép lại thành một cột dài lên thành trục mang hoa cao tới 1 m có khi cao tới l,50m. Vào mùa xuân, lá hình mác, dài mọc thành cụm xung quanh dò, đến cuối mùa hạ, lá khô hết, khi ấy mới xuất hiện cán mang hoa dài cao trên mặt đất, cụm hoa mọc thành chùm dài với rất nhiều hoa nhỏ màu trắng hay hơi xanh lục, phần mang hoa nhiều khi dài tới 50-60cm.

Hoa có 3 lá đài: 3 tràng, 6 nhị, 3 lá noãn, nhị đính lung có bao phấn màu vàng ngắn.

Quả là một nang 3 góc có 3-4 hạt ưong mỗi ngăn. Tại Việt Nam lá lụi vào mùa hè và xuất hiện vào mùa đông  Hành biển có 2 thứ: Thứ có vảy màu trắng: thứ có vảy đỏ tím, cả 2 thứ đều có tác đụng như nhau, nhưng có nước ưa dùng thứ này, có nước ưa dùng thứ khác, ví dụ thứ đỏ có khi gọi là hành biển Tây Ban Nha hay hành biển đực thường được trồng ở Angiêri, được ưa chuộng ở Pháp, hành biển cái được trổng ở đảo Xixilơ (Sicile) và Mantơ (Malte) được ưa chuộng ờ Anh.

Hành biển và tác dụng chữa bệnh của nó

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây hành biển mọc hoang tại những bãi cát quanh biển những vùng địa Trung Hải nhưng nhiều nhất tại những nước ở bắc châu Phi như Angiêri, đảo Sicile (Ý), đảo Corse (Pháp), có khi mọc rất xa trong đất liền. Trước đây tại Việt Nam không có: Năm 1958 chúng tôi chỉ xin vài củ non từ vùng Xukhumi (miền nam Liên Xô cũ) về trồng ở vườn Trường đại học y dược nay được phổ biến tại một số vườn thuốc khác.

Ngay tại Liên Xô cũ trước đây cũng không có: Từ năm 1930 vườn Xukhumi di thực từ nước ngoài về vài củ rồi từ đó phát triển ra. Nhu cẩu về thuốc cây này ít, nhưng tại nhiều nước người ta dùng diệt chuột, nhu cầu lên tới vài trăm tấn củ mỗi năm: Có thể trồng bằng hạt hay bằng củ non, trồng bằng hạt khó và đòi hỏi 4-5 năm mới thu hoạch được, còn trồng bằng củ non chỉ cần để củ ở chỗ ẩm, từ vảy giữa sẽ xuất hiện những củ con có thể đưa đi trồng được.

Do hành biển thu hái vào mùa thu sau khi cây đã ra hoa, thường người ta chọn những củ to, hái về bóc vảy ngoài mỏng khô, chỉ giữ lấy những vảy mẫm ở giữa, cắt ngang thành những dải nhỏ hẹp phơi nắng cho khô, tuy nhiên vì vảy chứa nhiều chất nhầy cho nên phơi khó khô, nếu phơi lâu có thể bị mốc, chất lượng giảm cho nên Perrot có đề nghị hấp trong nồi hấp hơi nước trong 5 phút ở nhiệt độ 105-110°c, sau đó phơi khô ngoài trời trong vài ngày.

Có thế phơi hay sấy ở nhiệt độ 60°c, dò hành biển phoi sau khi hấp dễ bảo quản hơn, nếu không hấp thì dò dễ hút nước, cần để nơi khô ráo. Trên thị trường dò hành biển thường được tiêu thụ dưới dạng những mảnh vảy thái ngang dài 3-6cm, rộng từ nửa đến lcm màu ưắng nhạt hay hồng tuỳ theo nguồn trắng hay đỏ, không mùi, vị hắc đắng. Trên vi phẫu những vảy cắt ngang ta thấy ở hai mặt có biểu bì màu trắng hổng có tầng cutin dày, với nhiều khổng to; trong mô vảy có những bó libe gỗ rải rác giữa những tế bào thành mỏng, có chứa chất nhầy, tanin, oxalat canxi hình kim dài tới Imm, nằm giữa đám chất nhầy, đôi khi có tinh thể oxalat canxi hình lăng trụ lớn hơn.

C.Thành phần hoá học

Hành biển được nghiên cứu từ lâu, nhưng cho đến nay cũng còn nhiều điểm chưa giải thích được hết tác dụng của hành biển. Năm 1879, Merck đã chiết từ hành biển 3 chất được coi là hoạt chất và đặt tên là scilipicrin vô định hình, màu vàng nhạt, rất đắng, tan trong nước; scilotoxin vô định hình, không tan trong nước, tan trong cồn, có tác dụng bổ tim, scilin có tinh thể, tan trong cồn nhưng không có tác dụng.

Mãi tới năm 1927, Stoll (ở Baale) đã chiết được 2 chất glucozit gọi là scilaren A và scilaren B còn gọi là scilarozit A và scilaoit B, ngoài ra còn scilaren c nhưng thực tế chỉ là hỗn hợp của scilaren A và scilaren B. Ngoài những glucozit trên, trong hành biển còn có một hỵdrat cacbon gọi là sinistrin (theo Schmiedeberg) hoặc scilin (theo Riche và Rémont), chất lipit, 2 sterol và cholin. Scilaren A rất ít tan trong nước và trong cồn, không tan trong ête và cloroíòc, tan trong 40 phần cồn metylic, tả tuyền 06D:-72° đến -78°. Khi thủy phân scilaren A cho một đường gọi là scilabioza (glucoza+ramnoza) và một phần không đường có sẵn trong cây nhưng kết hợp với tanin. Phần không đường này-gọi là scilaridinA.

Scilaren Alà glucozit quan trọng nhất; khi bị men scilarenaza tác dụng, scilaren A sẽ cho một glucozit mới gọi là proscilaridin A và glucoza. Nếu ta thuỷ phân bằng axit thì với scilabioza, nhưng nếu ta xuất phát từ proscilaridin A ta sẽ được ramnoza và scilaridin A. Kết quả thuỷ phân có thể tóm tắt theo bảng ở trang trước. Scilaridin A khác phần không đường của những glucozit trợ tim khấc (như strophantidin, digitoxigenin, digoxigenin v.v...) vì scilaridin có 24 cacbon còn những phần không đường khác chỉ có 23 cacbon, scilaridin có liên quan với những muối mật và có thể coi là một cái cầu bắc nối sterol nguồn gốc động vật với những glucozit trợ tim nguồn gốc thực vật.

Scilaren B là một phức chất, vô định hình, không mùi, vị đắng, hữu tuyển, tan trong nước và trong cồn, ít tan trong clorofoc, không tan ưong ête, khó bị thuỷ phân hơn, cho đường chưa xác định được, phần không đường cho màu xanh với thuốc thử Lieberman. Scilaren c như trên đã nói là hỗn hợp thiên nhiên của scilaren A và scilaren B, không mùi, vị rất đắng, ít tan trong nước, trong cloroíòc, không tan trong ête, rất tan trong cồn etylic và metylic, tả tuyền. Năm 1940, A. Stoll và J. Renz đã chiết từ scilaren B những glucozit có cấu tạo xác định, ngoài ra còn chiết được một glucozit mói gọi là scilirozit có thể là chất độc đối với những loài gậm nhấm.

Scilirozit đã được chiết dưới dạng tinh khiết kết tinh trong cồn metylic, công thức rất tan trong nước, clorofoc, ête, cổn etylic, với thuốc thử Lieberman (anhydrit axetic+axit sunfuric đặc) cho màu tím chuyển sang xanh tím rồi xanh lục, nitroprussiat natri và axit picric không có tác dụng, khó thuỷ phân, khi thuỳ phân cho glucoza nhưng phần không đường không có tinh thể, đường cong hấp thụ trong ngoại tím giống như đường cong hấp thụ của proscilaridin A và bufotalin của nhựa cóc.

D. Tác dụng dược lý

Dò hành biển tươi có tác dụng gây xung huyết: Nó làm da đỏ có khi gây phòng, tác dụng trên niêm mạc còn mạnh hơn. Chất gì gây xung huyết hiện chưa xác định, có tác giả cho nguyên nhân do oxalat canxi hình kim nhưng thực tế người ta đã đắp lên da những tờ giấy thấm tẩm cồn dò hành biển đã lọc để loại hết tinh thể oxalat canxi nhưng vẫn thấy xung huyết.

Tác dụng trên tim: Giống như tác dụng của dương địa hoàng nhưng không có hiện tượng tích luỹ, tác dụng nhanh, làm chậm mạch, tăng huyết áp, với liêu độc gây tim đập nhanh, loạn nhịp rồi tim ngừng đập ở tâm thu.

Tác dụng thông tiểu giống như dương địa hoàng (Digitalis) nhưng người ta cho rằng hành biển tác dụng lựa chọn và trực tiếp trên biểu mô thận, khồng những tăng thể tích nước tiểu mà còn tãng cả lượng urê bài tiết.

Tác dụng trên bài tiết làm tăng bài tiết dịch phế quản, mồ hôi. Liều độc: Gây viêm ống tiêu hoá, nôn mửa, đi ỉa lỏng, làm mất sự bài niệu do đó không dùng dò hành biển khi viêm thân hay viêm ruột. Ngộ độc có thể do quá liều hay do dùng lâu ngày: Đái ra máu, vô niệu, nôn mửa, ỉa chảy, mạch nhanh và nhỏ, vật vã, chết do ngừng tim.

E. Công dụng và liều dùng

Tác dụng của hành biển được biết từ lâu trước công nguyên, nhưng chỉ đóng khung ở một số nước châu Âu: Người Hy lạp biết dùng từ năm 584 trước công nguyên, nhân dân bắc châu Phi biết dùng và hiện nay còn dùng nước ngâm và nước sắc hành biển để diệt sâu bọ. Dùng làm thuốc thông tiểu nhất là trong viêm thận với bí đái nitơ, còn dùng làm thuốc long đờm trong bệnh khí thũng phổi (emphysèmé), ho gà, viêm phế quản.

Liều dùng 0,10 đến 0,30g bột một ngày, tối đa 0,25g một lần, lg trong 24 giờ. Còn dùng hoạt chất scilaren lấy riêng ra: Tác dụng Ổn định hơn. Liều dùng scilaren: 0,0005 đến 0,002g trong một ngày dưới dạng viên hay giọt, có khi dùng dưới dạng tiêm. Thuốc giết chuột:

Ngoài công dụng làm thuốc, hành biển còn được dùng để diệt chuột và diệt sâu bọ. Công dụng diệt chuột phổ biến từ đầu thế kỷ thứ 19: Thường dùng hành biển đỏ vì công hiệu hơn. Người ta cũng chưa rõ tại sao hành biển trắng lại kém hiệu lực, mặc dầu người ta thây hai thứ hành biển trắng và đỏ đều mọc hoang tại cùng một nơi và hành biển trắng khi phơi có thể chuyển ra đỏ hoặc hành biển đỏ nếu phơi khô có thể mất màu đỏ„ nhưng nếu trước khi phơi hay sấy đem ổn định bằng hơi cồn có axit axetic thì không bị mất màu.

Cần chú ý là những axit mạnh như sunfuric, clohydric nguyên chất hay pha loãng chỉ cho màu vàng như khi tiếp xúc với chất hữu cơ khác nhưng với hơi axit axetic thì trong tế bào xuất hiện màu đỏ lan dần ra khắp các mô. Tuy nhiên phản ứng này không xuất hiện đối với thứ hành biển trắng hoàn toàn không có màu màu đỏ.

Theo M. L. Danzel, cách chế hành biển đỏ giết chuột tiến hành như sau: cắt nhỏ củ hành biển, đồ với hoi cồn axetic sôi, sau đó đun sôi vói cồn axetic, lọc lấy riêng nước ra, bã còn lại chiết bằng cồn sôi, hợp cả 2 tfuTSjcR chiết lại và cô tới độ cao mềm. Cao này có tác dụng mạnh gấp 4 lần bột, gấp 3 lần cao chế theo phương pháp thông thường. Người ta cho rằng củ hành biển độc đối với chuột không phải do các glucozit chữa tim mà là do chất sciliroìt đã nói ở trên.

Hành Biển 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC