Vị thuốc vần H

Hồ Điệp Hoa

09:45 11/07/2017

Hồ Điệp Hoa có tên đồng nghĩa: Iris chnemis Curt.

Tên khác: Đuôi diều, lưỡi đòng.

Họ: La dơn (Iridaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống nhiều năm, có thân rễ dày, mọc bò dài, bén rễ ở những mấu. Lá mỏng, màu lục nhạt, hinh lưỡi kiếm, dài 35 - 40 cm, rộng 2,5 - 3,5 cm, hai mặt nhẵn, gần như cùng màu, bẹ lá rộng.

Cụm hoa mọc ở ngọn thân, bằng hoặc vượt hơn lá, phân nhánh thành chùm, nang nhiều đầu, môi đầu 3-4 hoa màu tím nhạt, bao bọc bởi một lá bắc rộng khoảng 2 cm, lá đài hình bầu dục rộng 1<2 - 2 cm, màu vàng ở họng với một mào ờ giữa; cánh hoa hơi nhẵn, hình thuôn, nở xòe; bầu có vòi nhụy phân nhánh, xẻ ở đinh.

Phân bố, sinh thái

Chi Iris L. ở Việt Nam chi có một loài hồ điệp hoa (hay còn gọi là cây đuôi diều) kể trên. Hiện tại mới thấy cây phân bố ở 3 điếm là thị trấn Sa Pa (Lào Cai), khu nghi mát Tam Đào (Vĩnh Phúc) và Phó Bảng (Hà Giang). Ở cả 3 nơi này, cây vừa được trồng làm cảnh, vừa thấy cây mọc trong trạng thái hoang dại hoá ở ven đường đi hay bờ nương rẫy nhưng không xa các nơi có người ở.

Theo một số người dân sinh sống nhiều năm ở Sa Pa và Tam Đảo thì hồ điệp hoa do người Pháp đem về trồng từ trước kia, nhưng nguồn gốc từ đâu thì không rõ. Loài cây này còn có ở Trung Quốc và Nhật Bản. Hồ điệp hoa là cây đặc biệt ưa ẩm ưa sáng và cũng có thể hơi chịu bóng. Cây ưa khí hậu ẩm, mát quanh năm ở vùng núi cao, ra hoa nhiều hàng năm, song chưa rõ về quả và trong quả có kết hạt hay không. Trong khi đó, cây có khả năng tái sinh vô tính khoẻ từ các đoạn thân rễ (củ) đem vùi xuống đất đều có thể mọc thành cây mới. Vì thế, người ta thường trồng bằng các nhánh con và có thể trồng gần như quanh năm.

Bộ phận dùng

Toàn cây.

Tác dụng dược lý

Tác dụng kích thích sinh u và xác định thành phần gây u

Dùng thân rễ và rễ (bỏ rễ to) cây đuôi diều (còn gọi là hồ điệp hoa: buttefly flower), phơi khô, nghiền thành bột khô. Chiết bằng methanol, cô áp suất giảm đến thể chất cao khô. Thêm cao đuôi diều vào môi trường tế bào bạch cầu cùa bệnh bạch cầu tiền tuỷ bào cấp (promyelocytic leukemia cell) dòng HL - 60 và nuôi trong 2 ngày. Kết quả thấy có một sự thay đổi hình thái tế bào từ trạng thái treo lơ lửng trong môi trường sang trạng thái dính bám vào thành ống nghiệm, chứng tỏ có sự biệt hoá (differentiation) tế bào.

Lấy cao đuôi diều đem sắc ký cột, rồi rửa giải (phản hấp phụ) lần lượt bằng các dung môi cloroform, ethylacelat và methanol. Chỉ cỏ phân đoạn ethylacetat là có tác dụng làm thay đổi hình thái tế bào và tác dụng hoạt hoá bạch cầu trung tính sinh ra superoxyd. Phân tích phân đoạn ethylacetat bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) thấy có 3 pic (pcak) nhưng các pic này đều không trùng với TPA trên phổ tử ngoại.  Kết luận: Trong thân rễ và rễ đuôi diều có thành phần kích thích sinh u, nhưng đó không phải là TPA (Takahashi et al., 1993).

Tính vị, công năng

Toàn cây đuôi diều vị đắng, tình hàn, có công năng thanh nhiệt giải độc, mát máu, tiêu viêm hơi độc. Về rễ, thân rễ, vỏ rễ, sách "Tứ Xuyên trung dược chí" ghi: rễ đuôi diều vị cay, tính mát, có tiểu độc; sách "Quý Châu thảo dược" ghi: vị đắng, hơi chát, tính mát; sách "Thượng Hải thường dụng trung thảo dược" ghi: vị đắng, tính hàn, có công năng tiêu thực, sát trùng, thanh nhiệt, thông tiện [TDTH, 1996, II: 2092], về toàn cây đuôi diều, sách "Thượng Hải thường dụng trung thảo dược" ghi: toàn cây vị đắng, tính hàn, có tiểu độc; có công năng giải độc, tiêu thũng, chi thống.

Công dụng

Rễ, thân rễ và hạt đuôi diều được dùng chữa viêm họng cấp tính, viêm gan vàng da, đái rắt, đái buốt. Rễ, thân rễ, mỗi ngày 10 - 15g sắc uông hoặc tán thành bột chia 2 lần uống. Hạt 8 - 12g sắc uống, hoặc sao lên, tán bột uống. Toàn cây có thể được dùng thay cho rễ, nhưng còn dùng chữa sưng phù và thấp khớp. Ngày dùng 15 - 20g sắc lấy nước uống. Sách "Toàn quốc trung thảo dược hội biên" khuyên nên dùng liều thấp hơn vì thuốc có tiểu độc. Toàn cây chỉ nên dùng ngày 6 - 15g, rễ, thân rễ 3 - 6g.

Ở Trung Quốc, thân rễ và rễ còn được nghiền thành bột, chiêu với nước, đắp lên các chỗ sưng hoặc đòn ngã tổn thương. Nước sắc toàn cây để chữa sưng phù, thấp khớp. Còn để điều trị viêm phế quản [Pcrry et al., 1980: 182].

Bài thuốc có đuôi diều

1. Chữa viêm họng cấp tính

Dùng hạt cây đuôi diều (hoặc dùng rễ) thăng ma, ngưu bàng, mỗi vị 8g. sắc uống một thang.

2. Trị viêm gan, vàng da, đái rắt

Rễ hoặc thân rễ đuôi diều, mộc thông, mỗi vị 10 - 12g, sắc uống ngày 1 thang.

Hồ Điệp Hoa 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC