Vị thuốc vần H

Hồ Lô Ba

05:28 13/07/2017

Hồ Lô Ba có tên khác: Khổ đậu.

Họ: Đậu (Fabaceae).

Mô tả

Cây thảo mọc đứng, sống hàng năm, cao 30 - 80 cm. Thân hình trụ, có rễ chính phát triển. Lá kép mọc so le, 3 lá chét hình trái xoan ngược, dài 1 - 3,5 cm, rộng 0,5 - 1,5 cm, gốc thuôn hẹp, đầu tròn, mép khía răng ở gần đầu lá: cuống lá dài 1,5 - 2 cm; lá kèm nhọn.

Hoa mọc riêng lẻ hoặc đôi một ở kẽ lá, có lông, màu vàng nhạt hoặc trắng; đài có lông và răng nhọn; tràng dài gấp đôi đài.

Quả hình trụ, thẳng rồi hơi cong ở đầu thành mùi nhọn, dài 10 - 12 cm, rộng 4-5 mm. nhẵn; hạt nhiều, hình thoi dẹt, màu nâu nhạt, có mùi thơm. Mùa hoa quả: tháng 5-8.

Phân bố, sinh thái

Chi Trigonella L. ở Việt Nam chi có một loài hồ lô ba trên. Hồ lô ba vốn mọc tự nhiên ở vùng Địa Trung Hải (châu Âu) và Bắc Phi, sau người ta đưa vào trồng thêm làm thức ăn cho gia súc, đồng thời cũng để phủ đất và cải tạo đất. Cây được nhập nội vào Việt Nam từ Liên Xô năm 1978. Qua trồng thử nghiệm ở Đà Lạt (Trạm NC. Dược liệu Lâm Đồng) và Trại thuốc Văn Điển (Viện Dược liệu) đã cho thu hoạch hạt. Song về sau không rõ lý do gì mà không đưa ra phát triển. Hiện nay loài cây này đã bị mất giống ở Việt Nam.

Hồ lô ba là cây ưa sáng, ưa khí hậu ẩm mát ở vùng núi. Cây trồng ở Trại thuốc Văn Điển trước kia cũng nằm trong thời vụ Đông - Xuân với nền nhiệt độ thấp, đến mùa hè - khi nhiệt độ lên cao đã có quả già. Được biết ở Trung Quốc cũng trồng nhiều hồ lô ba để làm thuốc.

Bộ phận dùng

Hạt.

Tác dụng dược lý

1. Tác dụng chống đái tháo đường

Hạt hồ lô ba đã được nghiên cứu nhiều với tác dụng hạ glucose huyết ờ động vật cũng như đái tháo đường trên lâm sàng ở người (AI - Habbori et al., 1998). Tác dụng hạ glucose huyết của hạt và lá hồ lô ba đã được nghiên cứu ở thỏ bình thường và dùng nghiệm pháp dung nạp glucose và thấy phân đoạn alcaloid thể hiện tác dụng hạ glucose huyết có ý nghĩa (Jain et al., 1987). Cao nước và cao methanol từ hạt hồ lô ba cho chuột nhắt trắng uống với liều 1g/kg gây ra tác dụng hạ glucose huyết rõ (Zia et al., 2001). Sàng lọc 45 cây thuốc vẫn được dùng chữa đái tháo đường ở Ấn Độ (Grover et al., 2002) cũng như tổng quan các nghiên cứu trong giai đoạn 2001 - 2005 (Jung et al., 2006) cho thấy hồ lô ba làm hạ glucose huyết ở con vật có glucose huyết bình thường và chống tăng glucose huyết ở động vật hoặc người bị đái tháo đường tip 2.

a) Đái tháo đường thực nghiệm do alloxan

Trên chuột cống trắng bình thường và chuột bị đái tháo đường do alloxan, cho chuột uống hồ lô ba với liều 2 và 8g/kg, glucose huyết giảm có ý nghĩa ở cả hai lô và ở liều lớn glucose huyết giảm nhiều hơn liều nhỏ (Khosla et al., 1995).

Cao ethanol từ hạt hồ lô ba cho chuột trắng bình thường uống liều lg/kg sau 2 giờ, glucose huyết giảm từ 60,6 đến 74,3 mg%; ở chuột gây đái tháo đường thực nghiệm bằng alloxan cho uống 21 ngày liên tiếp, glucose huyết giảm từ 121.3 đến 201,3mg% (Vats et al., 2002). Từ hạt hồ lô ba, sau khi khử chất béo, phân lập thành hai phân đoạn, phân đoạn A gồm vỏ hạt và nội nhũ, rất giàu chất sợi (79,5%) và phân đoạn B gồm lá mâm và lõi hạt giàu saponin (7,2%) và protein (52,8%). Chó bị đái tháo đường do alloxan, hàng ngày vẫn phải cho một liều tối thiểu insulin, được chia làm 3 lô: lô đối chứng, lô dùng phân đoạn A và lô dùng phân đoạn B, liền trong 21 ngày (thuốc được trộn vào thức ăn ngày 2 lần). Kết quả cho thấy phân đoạn A làm giảm rõ rệt sự tăng glucose huyết, làm giảm glucose niệu; đồng thời làm giảm cả nồng độ glucagon và somatostatin đã bị tăng cao ở chó bị đái tháo đường (Ribes et al., 1986); còn phân đoạn B không có tác dụng.

Tác dụng của hạt hồ lô ba trên sự peroxy hoá lipid và tình trạng chốne oxy hoá ở chuột đái tháo đường do alloxan đã được nghiên cứu. Chuột cống trắng bị đái tháo đường do alloxan thì sự peroxy hoá tăng và tình trạng chống oxy hoá giảm được biểu hiện là nồng độ glutathion, acid ascorbic và beta - carotene trong máu giảm có ý nghĩa, còn alpha - tocopherol lại tăng. Cho chuột ăn hạt hồ lô ba trộn vào với thức ăn hàng ngày, sự peroxy hoá lipid giảm, hàm lượng glutathion và beta - caroten tăng, alpha - tocopherol giảm, còn hàm lượng acid ascorbic không thay đổi. Ở chuột bình thường, nếu cho ăn thức ăn có trộn hạt hồ lô ba, hàm lượng các chất chống oxy hoá cũng tăng hơn so với chuột ăn thức ăn không có hạt hồ lồ ba (Ravikumar et al., 1999).

Chuột cống trắng bị đái tháo đường do alloxan có biểu hiện tăng sự peroxy hoá lipid. tăng tính nhạy cảm với stress oxy hoá và giảm các chất chống oxy hoá ở gan, thận và tụy. Nếu cho chuột ăn bột hạt hồ lô ba với liều mồi ngày 2g/kg trong 30 ngày (trộn vào cùng với thức ăn) sẽ làm giảm những thay đổi trên đến gần bình thường (Anuradha et al„ 2001 ).

Ở chuột cống trắng bị đái tháo đường do alloxan, glucose huyết tăng 4 lần thể trọng chuột giảm chỉ còn 70% so với chuột bình thường. Hoạt tính các enzym phân huỷ glucose giảm có ý nghĩa ở gan, nhưng lại tăng ở thận; hoạt tính của enzym tạo glucose tăng ở cả gan và thận còn hoạt tính của enzym tân tạo lipid lại giảm ở cả hai cơ quan của chuột đái tháo đường do alloxan. Cho chuột ăn chế độ ăn có 5% bột hạt hồ lô ba trong 21 ngày, nồng độ glucose huyết đã bị tăng, sẽ giảm xuống; hoạt tính các enzym đã bị thay đổi do alloxan được phục hồi lại tới mức gần bình thường ở cả gan và thận (Rafu et al., 2001 ).

Ở gan chuột cống trắng, pyruvat kinase (PK.) là enzym tiêu huỷ glucose và phosphoenopyruvat carboxykinase (PEPCK) là enzym tân tạo giucose đóng vai trò then chốt để ổn định nội môi về glucose cùng với chất vận chuyển glucose trong cơ vân là GLUT-4. Ở tình trạng đái tháo đường, cân bằng này bị rối loạn là do không có insulin để điều hoà quá trình này. Trong nghiên cứu, chuột bị đái tháo đường do alloxan có glucose huyết trên 300 nmol/lít được cho ăn bột hạt hồ lô ba. Kết quả cho thấy, hồ lô ba làm giảm glucose huyết và làm phục hồi lại PK, PEPCK, cũng như phân bố GLUT-4 trong cơ vân gần với mức bình thường (Mohammad et al., 2006).

Nghiên cứu mô bệnh học gan và thận ở chuột bị đái tháo đường do alloxan, thấy có những thay đổi thoái hoá gan và bệnh lý thận. Xét nghiệm siêu cấu trúc thấy lưới nội sinh chất có hạt giảm và ty thể trong tế bào gan phồng lên; hoạt tính của enzym glutamat dehydrogenase ở gan và thận tăng lên, còn hoạt tính của D - beta - hydroxyl - butyrat dehydrogenase giảm đi. Lô chuột bị đái tháo đường do alloxan, nhưng ăn bột hạt hồ lô ba cùng với thức ăn trong ba tuần, những thay đổi về hoạt tính của hai enzym bị ức chế có hiệu quả; những bất thường về siêu cấu trúc của gan và thận cũng được ngăn chặn một phần (Thakran et al., 2004).

Natri orthovanadat (Na3VO4, sau đây viết tắt lả vanadat) là thuốc có tác dụng chống đái tháo đường, nhưng liều có tác dụng rõ lại gây ra nhiều tai biến. Dùng liều thấp vanadat phối hợp với hạt hồ lô ba thì vẫn thu được tác dụng chống đái tháo đường mà cũng không gây độc. Thí nghiệm được tiến hành ở chuột cống trắng, gây đái tháo đường bằng cách tiêm phúc mạc alloxan với liều 150 mg/kg, rồi chia thành 5 lô. Lô đối chứng cho chuột uống nước cất; lô dùng insulin tiêm dưới da mỗi chuột 2IU; lô dùng vanadat 0,6 mg/ml; lô dùng bột hạt hồ lô ba 5% trộn vào thức ăn, và lô phối hợp vanadat 0,2 mg/ml và hồ lô ba. dùng thuốc liền 21 ngày. Cuối thí nghiệm, glucose huyết ở lô đối chứng tăng mạnh. Các lô dùng thuốc glucose huyết giảm có ý nghĩa; riêng lô dùng phối hợp vanađat và hồ lô ba. glucose huvết giảm tới mức gần bình thường. Những kết quả tương tự cũng thu được khi xác định hoạt độ cùa các enzym pyravat kinase (PK) phosplioenolpyrurat carboxykinase (PEPCK) glutathion peroxydase (GPx). glutathion redutase (GR). superoxid dismutase (SOD) và catalase (CAT) ở gan và thận chuột (Mohammad et al„ 2004).

Một thí nghiệm khác cũng được tiến hành như trên nhưng khác ở các thông số theo dõi. Ở chuột cống trắng bị đái tháo đường do alloxan, ngoài thông số glucose huyết tăng cao. đã xác định và thấy hoạt độ của SOD, catalase và Na'K’ATPase trong não chuột giảm; hàm lượng GPx và MDA (malonyldialdehyd) tăng cao và tính đàn hồi cùa màng tế bào não giảm. Các lô dùng thuốc đều phục hồi được các thông số trên; đặc biệt là lô dùng phối hợp vanadat với hột hạt hồ lô ba có hiệu quả nhất trong việc phục hồi những thay đổi này trở về bình thường (Siddiqui et al., 2005).

Nghiên cứu trên thông số về sự phân bố chất mang glucose (elucose transporten GT - 4) ở cơ vân bằng phương pháp hoá mô học miễn dịch (¡mmunohisto cliemistry) thấy rằng, ở chuột bị đái tháo đường do alloxan, cả bốn lô dùng insulin, vanadat, hồ lô ba và lô phối hợp vanadat với hô lô ba; ngoài việc glucose huyết trở về gần bình thường, những rối loạn về phân bố GLUT - 4 ở cơ xương cũng được phục hồi, lô dùng hồ lô ba chi có hiệu quà một phần; còn lô dùng phối hợp có hiệu quà nhất (Mohamad et al., 2006). Nghiên cứu trên các thông số khác, thấy ở chuột công trắng bị đái tháo đường do alloxan, ngoài glucose huyết tăng cao; hoại tính của Na K’ATPase trong gan và tim giảm, nhưng trong thận thì lại tăng, sự peroxy hoá lipid tăng; tính đàn hồi của màng tế bào giảm, sự phân bố GLUT - 4 trong tim cũng giảm có ý nghĩa. Các lô dùng insulin, vanadat, hồ lô ba và vanadat phối hợp với hồ lô ba làm cho glucose huyết trở về gần bình thường; làm phục hồi lại hoạt độ của Na+K+ATPase, sự penoxy hoá lipid và tính đàn hồi của màng, cũng như gây ra sự phân bố lại GLUT - 4 trong tim. Lô dùng hồ lô ba chỉ có hiệu quả một phần, lô phối hợp có hiệu quả tốt nhất (Siddiqui et al., 2006). 

Một thí nghiệm khác được tiến hành như trên, nhưng chỉ dùng 4 lô, lô dùng vanadat, lô dùng hạt hồ lô ba, lô dùng phối hợp vanadat và hồ lô ba và lô đối chứng. Ở lô đối chứng gây đái tháo đường bằng alloxan, glucose huyết tăng 4 lần so với bình thường, hàm lượng lipid tổng số, triglycerid, cholesterol tổng số trong huyết thanh tăng có ý nghĩa thống kê; lipid tổng số trong gan tăng 48ộ/o, trong thận tăng 55% (P< 0,001); triglycerid trçniz gan tăng 32%, trong thận tăng 51%; cholesterol trong gan và thận cũng tăng có ý nghĩa thống kê. Các lô dùng thuốc đều ức chế được sự tăng glucose huyết, làm giảm tinh trạng nhiễm lipid trong huyết tương và trong gan thận. Riêng lô dùng phối hợp có tác dụng ức chế mạnh nhất sau khi dùng thuốc được 21 ngày (Yadav et al., 2004).

Tác dụng của liều thấp vanadat phối hợp với bột hạt hồ lô ba cũng được nghiên cứu trên cấu trúc mô học của dây thần kinh hông. Ở chuột cống trắng bị đái tháo đường do alloxan, ngoài glucose huyết tăng cao, vỏ myelin của dây thần kinh hông còn bị phá huỷ, sợi trục của dây thần kinh bị mất, khi xét nghiệm lúc 56 ngày sau khi tiêm alloxan. Ở lô dùng vanadat phối hợp với hồ lô ba, glucose huyết giảm đến mức gần với bình thường, dây thần kinh hông cũng được bảo vệ, ức chế được sự bất thường khi xét nghiệm mô học (Preet et al., 2005).

Để nghiên cứu biến chứng lâu dài của đái tháo đường trên đục thuỷ tinh thể đã gây đái tháo đường cho chuột cống trắng bằng alloxan tiêm phúc mạc liều 120 mg/kg rồi theo dõi cho đến khi xuất hiện đục thuỷ tinh thể. Ở lô thuốc, cao ethanol của hạt hồ lô ba được dùng với liều hàng ngày là 2g/kg. Glucose huyết và thể trọng được xác định 2 tuần một lần; đục thuỷ tinh thể được quan sát bằng mắt thường và bằng đèn khe (slit lamp) vào các ngày 75, 100 và 115 sau khi tiêm alloxan. Kết quà cho thấy, cao hạt hồ lô ba cải thiện được tốt về thể trọng và glucose huyết, làm giảm chỉ số đục (opacity index) thuỷ tinh thể, gây ra tác dụng chống đục thuỷ tinh thể rất rõ ràng (Vats et al., 2004).

Trong một nghiên cứu khác, chuột cống trắng cũng được gây đái tháo đường alloxan, rồi chia ngẫu nhiên thành 5 lô, mỗi lô 6 chuột: lô đối chứng, lô dùng insulin, lô dùng vanadat liều cao 0,6 mg/ml, lô dùng bột hạt hồ lô ba 5% trộn vào thức ăn và lô phối hợp vanadat liều thấp 0,2 mg/ml và hồ lô ba trong 8 tuần liền. Xét nghiệm mô bệnh học thuỷ tinh thể bằng phương pháp chụp ảnh hiển vi (photomicrography) và xét nghiệm võng mạc bằng kính hiển vi điện tử. Ngoài ra còn định lượng hoạt độ của các enzym hexokinase (HK), aldose reductase (AR), sorbitol dehydrogenase (SDH), glucose -    6    - phosphatdehydrogenase (G - 6 - PD), glutathion peroxydase (GPx), glutathion reductase (GR) và hàm lượng của các chất chuyển hoá như sorbitol, fructose, glucose, malondialdehyd (MDA) và glutathione khử ở trong thuỷ tinh thể, cũng như định lượng glucose và hemoglobin glycosylat trong máu chuột. Kết quả cho thấy ở lô chuột đối chứng, glucose huyết, hemoglobin glycosyl... và các enzym AR và SDH tăng lên có ý nghĩa, gây ra tích lũy sorbitol và fructose ở thuỷ tinh thể, còn lô điều trị phối hợp vanadat với hồ lô ba làm giảm các thông số này tới gần mức bình thường. Cũng như vậy, việc điều trị phối hợp, điều hoà được hoạt tính của HK, G - 6 - PD, GPx và GR ở thuỷ tinh thể chuột tới giá trị gần bình thường. Siêu cấu trúc võng mạc của chuột ở lô đối chứng bị phân huỷ ở tế bào lớp nhân hên trong kèm theo là giảm lưới nội sinh chất hạt và phồng các ty thể cuả các tế bào lưỡng cực (bipolar ccll); ở lô dùng thuốc phối hợp những thay đổi cấu trúc võng mạc được phục hồi có hiệu quả đến mức gần bình thường (Preet et al.. 2006).

Tác dụng lảm giảm glucose huyết cùa lá hồ lô ba cũ na đã được nuhiên cửu. Cao chiết mrớc từ lá hồ lõ ba được dùng với liều tiêm phúc mạc là 0,06; 0,2; 0,5 và Ig/kg, và uống với liều 1,2 hoặc 8g/kg đều làm giảm glucose huyết ờ chuột cống trang bình thườnii và chuột bị đái tháo đường do alloxan. Cao ethanol của lá hồ lô ba lại không làm giâm glucose huvết ừ chuột bình tlnrờng, nhưng tiêm phúc mạc liều 0,8g/kg cho chuột đái tháo đường do alloxan lại làm giám glucose huyết có ý nahĩa thống kê, khi định lượng glucose huyết vào lúc 2 giờ và 24 giờ sau khi tiêm thuốc (Abdel - Barry et al.,1997).

b) Đái tháo đường thử nghiệm do streplozotocin

Chuột cống trắng 50 - 60 ngày tuổi, nặng 80 - 150g, 10 con đối chứng không dùng gì (lô 1), 48 con được gây đái tháo đường bằng tiêm phúc mạc streptozotocin liều 90mg/ml dung dịch đệm citrat cho 1 kg thể trọng chuột. Sau 5 ngày, định lượng glucose huyết và chọn lấy 20 con có glucose lniyết cao, 10 con gây bệnh nhưng không dùng thuốc (lô 2), 10 con dùng thuốc (lô 3) là hạt hồ lô ba tán thành bột đã loại bò chất béo, cho chuột ăn hàng ngày trộn với thức ăn từ ngày thứ 5. Đến ngày thứ 13, định lượng glucose huyết lúc đói thấy glucose huyết ở lô I là 5,21 mmol/lít; lô 2 là 24,33 mmol/lít vả lô 3 là 9,89 mmol/lít. Như vậy, hạt hồ lô ba làm giảm glucose huyết lúc đói có ý nghĩa (giảm 59,3%) và cải thiện được tinh trạng đái tháo đường ở chuột cống trắng (Mondal et aL 2004).

 

Hồ Lô Ba 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC