Vị thuốc vần H

Hoa Mặt Trời

11:26 11/07/2017

Tithonia diversifolia (Hemsl.) A. Gray

Tên đồng nghĩa: Mirasonìa diver.sifoiia Hemsl.

Tên khác: Hướng dương dại, dã quỳ, sơn quỳ, cúc quỳ.

Tên nước ngoài: Mexican sunflower (Anil).

Họ: Cúc (Asteraceae).

Mô tả

      Cây bụi, sống hằng năm, cao 2 - 5m. Thân có lông cứng áp sát, phân cành nhiều. Lá mọc so le, chia thuỳ không đều, gốc thuôn, đầu nhọn, mép khía răng, cuống lá dài 1 - 2 cm.

      Cụm hoa mọc ở đầu ngọn trên một cuống dài thành đầu to; lá bắc xếp thành hàng cao 2 cm; hoa ở vòng ngoài hình môi màu vàng tươi, cánh hoa thuôn, xẻ hai thuỳ nhỏ ở đầu; hoa ở giữa hình ống, ở giữa hoa có những vảy ngắn.

     Quả bể có 2 răng.

      Mùa hoa quả: tháng 12-2.

Phân bố, sinh thái

     Chi Tithoniơ Desf.ex Juss có hai loài ở Việt Nam, đều là cây nhập nội.

    Hoa mặt trời có nguồn gốc ở Nam Mỹ, phân bố rộng rãi khắp các vùng nhiệt đới trên thế giới. Cây được nhập vào Việt Nam không rõ từ bao giờ và hiện nay đã trở nên hoang dại hoá ở khắp các tỉnh từ Lai Châu, Điện Biên, Cao Bằng đến Tây Nguyên và các tỉnh ở Tây Nam Bộ. Đặc biệt tại tỉnh Gia Lai, có hai điểm hoa mặt trời mọc thuần loại trên diện tích lớn là đèo Mang Jiang và núi Phượng Hoàng (trên đường 14 từ Pleiku đi Buôn Mê Thuột). Cây thường được trồng làm hàng rào vườn, nương rẫy, đồng thời cũng để làm cảnh.

       Hoa mặt trời là cây đặc biệt ưa sáng, có biên độ sinh thái rộng và có khả năng chịu hạn cũng như chịu lạnh về mùa đông (ở Lai Châu, Cao Bằng). Cây sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm, ra hoa nhiều vào mùa thu; khả năng tái sinh từ hạt tốt, và còn có thể trồng được bằng cành. Hoa mặt trời mọc ở miền Bắc có hiện tượng bán tàn lụi vào mùa đông.

       Người dân ở một số tỉnh đồng bằng, trung du Bắc Bộ thường cắt cảnh lá hoa mặt trời làm phân xanh.

Bộ phận dùng

     Lá.

Tác dụng dược lý

      Các sesquiterpen lacton chính của cây hoa mặt trời là diversifolin, diversifolin methyl ether và tirotundin đã được nghiên cứu về hoạt tính chống viêm và xác định xem các chất này có tác dụng ức chế cyclooxygenase - 1, phospholipase A2 hoặc yếu tố phiên mã NF - kB, và do vậy, làm giảm sự tổng hợp các chất trung gian viêm như cytokin và chemokin. Kết quả nghiên cứu cho thấy ba hoạt chất nêu trên có hoạt tính ức chế viêm là do sự alkyl hoá các cặn bã cystein, các cặn bã này có trong phạm vi của sự gắn kết với ADN của yếu tố phiên mã NF - kB. Diversifolin còn có tác dụng kháng khuẩn ở mức độ vừa đối với Bacillus subtilis.

       Sự tách phân đoạn cao chiết với ethanol từ cây hoa mặt trời (cao này ban đầu không có hoạt tính kháng virus) đã dẫn đến một phân đoạn tan trong nước có hoạt tính kháng HIV - 1 cao. Chỉ số tính chọn lọc lớn hơn 461, cho thấy tính độc hại tế bào có ở một số cây có thể che lấp các tác dụng kháng virus của các hoạt chất có trong các cao thảo mộc toàn phần.

      Cao chiết với ether từ các phần trên mặt đất của cây hoa mặt trời thể hiện hoạt tính kháng Plasmodium tốt (IC50 trên chủng Plasmodium falciparum nhạy cảm với cloroquin (FCA): 0,75microg/ml). Sự tách phân đoạn định hướng bởi thử nghiệm sinh học cao chiết này dẫn đến phân lập được sesquiterpen lacton tagitinin C đã biết là thành phần có hoạt tính kháng Plasmodium (IC50 trên chủng FCA: 0,33 microg/ml), đồng thời cũng có tác dụng độc hại tế bào (IC50 trên tế bào HTC - 116: 0,706 microg/ml).

       Sự chiết phân đoạn định hướng bởi hoạt tính sinh học của một cao chiết với ethyl acetate từ các phần trên mặt đất của cây hoa mặt trời với việc dùng thử nghiệm sinh học chống tăng sinh thực hiện trên các tế bào ung thư đại tràng của người (Co 12) dẫn đến phân lập được 3 sesquiterpenoid mới cùng với 8 sesquiterpen lacton đã biết. Các chất phân lập này đã được đánh giá về khả năng dùng làm thuốc hoá dự phòng ung thư, bằng cách đo hoạt tính chống tăng sinh ở tế bào Co 12 và sự biệt hoá tế bào ở các tế bào bệnh bạch cầu tiền tuỷ bào của người (HL - 60). Các hợp chất chọn lọc được thử nghiêm về khả năng ức chế các tổn thương trước khi phát triển khối U gây bởi 7, 12 - dimethylbenz (a) anthracen trong thử nghiệm nuôi cấy cơ quan vú chuột nhắt trắng. Trong các hợp chất phân lập này, tagitinin C và 1 - β, 2 - α - epoxytagitinin c thể hiện hoạt tính chống tăng sinh có ý nghĩa. 

Công dụng

    Trong y học dân gian, lá đắng cây hoa mặt trời được dùng sát vào da trị ghẻ.

    Trong y học cổ truyền Daia (châu Phi), phụ nữ dùng nước ngâm lá cây hoa mặt trời để gây sẩy thai, cách dùng là uống một cốc nước ngâm lá này và thụt với một cốc nước ngâm lá khác. Ở Trung Mỹ, cao chiết lá cây hoa mặt trời được dùng ngoài chữa khối tụ máu và vết thương. Cây hoa mặt trời còn được dùng trong y học cổ truyền ở Sao Tome & Principe để trị sốt rét.

Hoa Mặt Trời 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC