Vị thuốc vần H

Hy Thiêm

02:26 19/05/2017

Hy Thiêm có tên khác: cỏ đĩ, chó đẻ hoa vàng, cỏ bà a, cúc dính, nụ áo rìa, sơn bích, cút lợn, lưỡi dòng, cỏ cứt heo, nhả khỉ cáy (Tày), co boóng bo (Thái).

Tên nước ngoài: Common St Paul's wort (Anh).

Họ: Cúc (Asteraceae).

Mô tả

Cây thảo, sống hàng năm, cao 30 - 90 cm, phân nhiều cành nằm ngang, có lông. Lá mọc đối, hình tam giác hay hình quả trám, dài 4-10 cm, rộng 3-6 cm, cuống ngắn, phiến lá men theo cuống, đầu nhọn, mép có răng cưa không đều và đôi khi chia 2 thuỳ ở phía cuống, 3 gân chính mảnh, mặt dưới hơi có lông.

Cụm hoa có cuống dài 1 - 2 cm, mảnh, có lông, là một đầu có đường kính 6-7 mm; 5 lá bắc ngoài to, hình thìa, có lông dính, lá bắc trong hình trái xoan ngược, đầu cụt, hoa màu vàng; 5 cái ngoài là hoa cái hình lưỡi, những hoa khác lưỡng tính, hình ống, không có mào lông; tràng có lưỡi ngắn, chia 3 thuỳ, ống có lông, nhị 5, có tai nhọn rất ngắn.

Quả bế, hình trứng, có 4 - 5 cạnh, tròn ở đỉnh, gốc thuôn dần, nhẵn, màu đen.

Mùa hoa quả : tháng 4-7.

Cây dễ nhầm lẫn: Vì mang tên "cứt lợn", nên cây dễ nhầm với cây cứt lợn chính tên - Agératum conyzoides L. Đã có trường hợp thu mua nhầm phải cây cứt lợn với số lượng hàng tấn dược liệu (năm 1962). Một số cây khác cũng được gọi là "cứt lợn" như Anisomeles ovaía R.Br., Lantana camara L.

Hy thiểm  và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Siegesbeckia L. hiện có 2 loài ở Việt Nam là hy thiêm và hy thiêm núi. Hy thiêm phân bố ở vùng có khí hậu cận nhiệt đới và nhiệt đới : Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Indonesia, Philippin, Australia. Ở Việt Nam, cây phân bố chủ yếu ở vùng núi và trung du phía bắc như Hà Giang. Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, 'Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoà Bình, Thanh Hóa, Nghệ An... Cây ưa sáng và ưa ẩm, thường mọc tương đối tập trung trên đất ẩm ở các bãi sông, ruộng hoang, ruộng trồng ngô và ven đường đi. Độ cao dưới 1500 m. ở làng năm, cây con mọc từ hạt vào tháng 4-5. Cây sinh trưởng nhanh và ra hoa ngay cuối mùa hè hoặc đầu mùa thu, sau tàn lụi vào đầu mùa đông, vỏ quả có lông dính, dễ dàng phát tán nhờ con người và động vật. Nguồn hy thiêm ở Việt Nam khá dồi dào.

Trưóc năm 1990, mỗi năm ngành y tế khai thác khoảng vài trăm tấn, gần đây khối lượng đã giảm.

Cách trồng

Hy thiêm là cây dễ trồng, dễ sống ở cả miền núi, trung du và đồng bằng. Cây đã được nghiên cứu trồng ở tỉnh Bắc Thái (cũ) có kết quả tốt. Trồng hy thiêm bằng hạt.

Hạt được gieo thẳng vào tháng 3-4. Đất trồng hy thiêm là đất cát pha, có ẩm nhưng không bị úng ngập; đất trồng màu là tốt nhất. Đất cần được cày bừa, để ải, đập nhỏ, đánh thành luống cao 20 - 25 cm, rộng 90 - 100 cm. Mỗi hecta bón lót 10 - 15 tấn phân chuồng hoai mục, bón theo rạch cách nhau 30 - 40 cm. Đảo phân đều với đất rồi gieo hạt, trên phủ rơm, rạ, tưới ẩm hàng ngày. Sau 5 - 7 ngày, hạt đã nảy mầm. Lúc này, cần dỡ bỏ rơm rạ.

Khi cây cao 7-10 cm, tiến hành tỉa giặm, đảm bảo khoảng cách giữa các cây là 20 - 25 cm. Chú ý làm cỏ, bón thúc ngay sau khi cây mọc vì hy thiêm là cây ngắn ngày. Trung bình, cứ 20 - 25 ngày làm cỏ và thúc dạm một lần. Mỗi lần bón 2 kg urê cho một sào Bắc Bộ. Đến tháng 5-6, cây bắt đầu ra hoa và có thể thu hoạch.

Hy thiêm ít bị sâu bệnh. Cần chú ý thoát nước sau mưa lớn. Nếu muốn thu hạt giống, phải đợi đến tháng 7-8, khi hạt chín, cắt cả cây và phơi khô rồi đập lấy hạt.

Bộ phận dùng

Phần trên mặt đất, thu hái vào lúc cây sắp ra hoa, chọn cây nhiều lá, cắt lấy phần từ ngọn trở xuống, dài 30 - 50 cm, đem phơi hay sấy khô. Dược liệu có nhiéu lá bánh tẻ, khô, không mọt, không vụn nát là tốt. Nếu chỉ còn thân, rụng hết lá là kém phẩm chất.

Thành phần hóa học

Hy thiêm chứa nhóm melampolides, thymohydroquinon dimethylether, phytol, 8ß - iso butyryloxyreynosin, germocranolid, melampoliđ, 9ß - hydroxycostunolid, - hydroxy - 8ß methacryloyloxycostunolid, 14 - hyđroxy - 8 ß - isobutyryloxycostunolid, 8ß- isobutyryloxy - 14 - alcostunolid, 9ß, 14 - dihydroxy - 8ß isobutyryloxycostunolid, 8 ß - isobutyryloxy - 1 ß, 10 a - epoxycostunolid, 9ß- hydroxy - 8 ß - isobutyryloxy - 1 ß, 10 a - epoxycostunolid, 8ß, 9ß - dihydroxy - Iß, 10a - epoxy - llß, 13 - dihydrocostunolid, 14 - hydroxy - 8ß - isobutyryloxy - lß, 10a - epoxycostunolid, 15 - hydroxy - 9a - acetoxy - 8ß - isobutyryloxy - 14 - oxomelampolid - 9a, 15 - dihydroxy - 8ß - isobutyryloxy - 14 - 0X0 - melampolid, 19 - acetoxy - 12 - 0X0 - 10, 11 - dihydrogeranylnerol, 19 - acetoxy - 15 hydroperoperoxy - 12 - 0X0 - 13, 14E - dehydro - 10 11, 14, 15 - tetrahydro geranylnerol, 19 - acetoxy - 15 - hydroxy - 12 - 0X0 - 13, 14 E - dehydro - 10, 11, 14 15 - tetrahydrogeranylnerol, 2ß, 15, 16 - trihydroxy- ent-pimari-8 (14) - en, 15, 16 - dihydroxy - 2 - 0X0 - ent-pimar-8 (14) - en, 15, 16, 18 - trihydroxy - 2 - 0X0 - ent-pimar-8 (14) - en. (Trung dược từ hải, III, 1997).

Theo cuốn "Bài giảng dược liệu, tập I, 1998” và theo K.S.Rưbalco và cs, 1976, hy thiêm chứa daturosid (chất này khi thủy phân cho glucose và đarutigenol), orientin, orientalid và 3,7 - dũnethyỉ quercetin. chuột nhắt trắng theo phương pháp Karber là 77,5g/kg, chứng tỏ hy thiêm có độc tính thấp.

Tác dụng chống viêm cấp của hy thiêm qua bài thuốc gồm hy thiêm, mộc qua, thiên niên kiện, ngưu tất, đã được chứng minh bằng cách cho chuột cống trắng uống, đồng thời gây giảm tỷ lệ gamma - globulin trong huyết thanh. Hy thiêm có tác dụng an thần, làm giảm hoạt động tự nhiên của động vật thí nghiệm, có khả năng ức chế miễn dịch, nâng cao tỷ lệ sống của động vật trong thí nghiệm gây choáng phản vệ. Có hoạt tính kháng histamin và kháng acetylcholin thể hiện ờ tác dụng làm giảm biên độ co thắt cơ trơn ruột cô lập gây bởi hai chất trên.

Tác dụng của hy thiêm đối với chuyển hóa lipid ở chuột cống trắng được gây tăng lipid máu thực nghiệm đã được nghiên cứu. Dược liệu gây giảm cả 3 chỉ số: mức cholesterol máu, tỷ số beta/alpha lipoprotein máu và mức lipid toàn phần trong máu động vật thí nghiệm. Rượu ngọt và viên nén Ngưu linh thiêm (bào chế từ 3 dược liệu hy thiêm, ngưu tất và khúc khắc) đã được áp dụng trên 154 bệnh nhân, trong đó có 95 viêm đa khớp lành tính, 40 viêm đa khớp dạng thấp, 14 đau lưng và 5 đau dây thần kinh toạ.

Thuốc có tác dụng chống viêm và giảm đau rõ rệt trên lâm sàng với kết quả tương đối nhanh và tốt nhất đối vối đau lưng cấp do lạnh và sang chấn. Tác dụng điều trị tương đối tốt với viêm đa khớp dạng thấp, chưa có biến dạng về khớp và đối với các chứng đau nhức đơn thuần. Khi đã có biến dạng về xương, cơ, khớp thì kết quả kém. Thuốc không gây tác dụng phụ gì đáng kể, nhưng cần chú ý uống thuốc sau bữa ăn để tránh gây kích thích niêm mạc dạ dày. Viên Hy đan (bào chế từ 3 dược liệu hy thiêm, ngũ gia bì và mã tiền) đã được nghiên cứu ứng dụng trên tổng số 60 bệnh nhân viêm đa khớp dạng thấp và 55 bệnh nhân thấp khớp.

Thuốc có tác dụng :

a. Chống viêm trên nhũng bệnh nhân viêm đa khớp dạng thấp, tỷ lệ bệnh nhân khỏi và đỡ đạt 80%. Thuốc tỏ ra tốt ở giai đoạn sớm của bệnh.

b. Giảm đau trên những bệnh nhân đau nhức khớp không rõ nguyên nhàn, tỷ lệ dạt 80%.

Tác dụng giảm đau kém hơn so với tác dụng tiêu viêm. Trong 3 dược liệu có trong công thức, hy thiêm có vai trò quan trọng hơn cả. Viêm Hy đan gây một số tác dụng phụ như cảm giác sưng đau tăng trong 3 - 5 ngày đầu điều trị; 57% bệnh nhân bị táo bón và 42% bệnh nhân có cảm giác háo khát.

Tính vị, công năng

Hy thiêm có vị cay đắng, tính mát, vào hai kinh can, thận, có tác dụng khu phong, trừ thấp, hoạt huyết, chỉ thống, lợi gân xương.

Công dụng

Hy thiêm được dùng để điều trị phong thấp, tê bại, khớp sưng nóng đỏ và đau nhức, đau lưng mỏi gối, mụn nhọn lở ngứa, kinh nguyệt không đều. Ngày dùng 8 - 16g, dạng thuốc sắc, cao mềm hoặc hoàn tán.

Dùng trông hoặc phối hợp với các vị thuốc khác như gối hạc, cỏ xước, củ cốt khí. Còn dùng giã đắp tại chỗ chữa nhọt độc, ong đốt, rắn cắn. Cây có tác dụng phụ gây nên nếu dùng tươi, uống nhiều.

Trong y học Trung Quốc, hy thiêm được dùng phối hợp với các cây thuốc khác để điều trị ung thư và chảy máu não kèm theo chứng liệt. Dùng toàn cây dưới dạng nước sắc, liều một lần là 10g. Ở Ân Độ, hy thiêm được coi là có tác dụng chữa các vết loét hoại thư và các chứng đau nhức. Nước ép cây tươi đắp trên vết thương, khi khó tạo thành một lớp phủ ngoài giống như véc ni. Cồn thuốc hy thiêm được dùng ngoài cùng với glycerin dể chữa bệnh herpes loang vòng và một số bệnh nhiễm ký sinh trùng.

Hy thiêm dược dùng chữa thấp khớp và cơn đau thận. Nó được coi là có tác dụng trợ tim, làm ra mồ hôi, chống scorbut và tăng tiết nước bọt. Còn dược dùng làm thuốc trị giun sán. Cao nước hy thiêm có tác dụng độc đối với một số loài gián. Ở Mađagasca, hy thiêm được dùng với tác dụng gây liền sẹo ở bén ngoài và bên trong cơ thể (đối với loét ống tiêu hóa). Ở Népal, dịch ép rễ hy thiêm trị vết thương. Ở Nigeria, cao toàn cây có tác dụng kháng khuẩn trị thương tổn da, bệnh phong, giang mai, bệnh hoa liễu và nấm da, trị loét, làm thuốc tẩy và chống nôn.

Bài thuốc có hy thiêm

1. Chữa phong thấp (theo Hải Thượng Lãn Ông):

a. Rượu chữa phong đau: Hy thiêm 80g, vỏ chân chim 100g (sao), rễ cỏ chỉ 80g (sao), rễ rung rúc 80g (sao), rỗ cây bươm bướm 60g (sao), cây bấn đỏ 40g (sao), cây bấn trắng 40g (sao), quy bầu 40g, ô dược 40g, cỏ xước 40g (sao), rẻ bưởi bung 40g (sao), cỏ roi ngựa 24g (sao), cây bạc sau, cỏ nụ áo, ngò đất.

Cách chế : Những vị thuốc trên thái nhỏ, bọc vào một túi vải, bỏ vào trong hũ rượu, trát đất kín miệng, nấu trong thời gian cháy hết một nén hương, rồi chôn xuống đất 3 ngày đêm, uống dần ít một vào lúc đói.

b. Chữa phong tê : Bài thuốc rượu như trên, thêm rau đắng đất.

c. Viên chữa phong đau : Hy thiêm 160g (chưng với rượu và mật), cẩu tích 240g (tẩm rượu nấu với nước muối, phơi khô), rẽ cỏ xước 160g (dùng tươi, rửa với rượu), vỏ chân chim 160g (sao), rễ gắm 160g (sao), cốt toái bổ 160g (cạo hết lông, thái nhỏ, nấu với nước mật, phơi khô), thạch hộc 160g (rửa vớì rượu, chưng kỹ, phơi khô), củ ráng l00g (phơi râm, bỏ lông và vỏ), lá ké đầu ngựa 40g (phơi râm).

Cách chế: Các vị trên tán bột, luyện mật làm viên. Uống mỗi lần 8 - 12g với nước gừng hay rượu.

2. Chữa phong thấp thể nhiệt, đau lưng và các khớp, nhức xương:

a. Hy thiêm, rửa sạch phơi khó, rưới rượu và mật vào, đổ rồi phơi, lại tẩm, đổ và phơi 9 lần. Sấy khô, tán nhỏ, viên với mật, uống mỗi ngày 10 - 15g.

b. Hy thiêm 50g, ngưu tất 20g, thổ phục linh 20g, lá lốt l0g, làm viên. Ngày uống 3 lần, mỗi lần l0g.

3. Chữa giai đoạn sớm của viêm đa khớp dạng thấp, đau nhức khớp:

a. Hy thiêm 16g, ngưu tất 16g, thổ phục linh 12g, ké đầu ngựa 12g, cành dâu 12g, cà gai leo 12g, tỳ giải 12g, lá lốt l0g. Sắc uống ngày một thang

. b. Viên hy đan, mỗi viên có cao khô hy thiêm 0,03g, bột mịn ngũ gia bì 0,005g, cao ngũ gia bì 0,035g, bột mịn mã tiền chế 0,013g. Liều tối đa an toàn một lần là 20 viên và một ngày là 80 viên.

4. Chữa bại liệt nửa người, miệng mắt méo, mất tiếng:

a. Danh y Lê Kinh Hạp thời Tự Đức đã kô đơn cao hy thiêm uống với máu mào gà có kết quả.

b. Lá và cành non hy thiêm hái trước khi ra hoa, sao vàng tán bột. Thêm mật, làm viên to bằng hạt ngô. Ngày uống 3 - 6g sau bữa ăn, nếu uống được rượu thì chiêu thuốc với rượu.

5. Chữa sốt rét cơn lâu ngày, đờm đọng hoặc tức đầy không muốn ăn: Hy thiêm tươi giã nhỏ, chế nước sôi vào, chắt lấy nước cốt, uống một chén (30 ml). Uống nhiều thì nôn ra đờm.

6. Chữa tăng huyết áp: Hy thiêm 8g, ngưu lất 6g, thảo quyết minh 6g, hoàng cầm 6g, trạch tả 6g, chi tử 4g, long đởm thảo 4g. Uống mỗi ngày một thang, dạng thuốc sắc hoặc chè thuốc.

7. Chữa đau nhức các khớp không có nóng đỏ: Hy thiêm, thổ phục linh, ké đầu ngựa, rễ vòi voi, mỗi vị 16g; uy linh tiên, tỳ giải, ý dĩ, cam thảo nam, môi vị 12g; quế chi, bạch chỉ, mỗi vị 8g. sắc uống, ngày một thang.

8. Chữa viêm khớp dạng thấp: Hy thiêm, rễ vòi voi, thổ phục linh, mỗi vị 16g; ngưu tất, kê huyết đằng, sinh địa, mỗi vị 12g; nam độc lực, rễ cây cà gai leo, rễ cây cúc áo, huyết dụ, mỗi vị l0g. Sắc uống ngày một thang.

9. Chữa chàm (Nhị diệu thang gia giảm): Hy thiêm, hoàng bá, ké đầu ngựa, phù bình, bạch tiễn bì, mỗi vị 12g; thương truật, phòng phong, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang

. 10. Chữa vẩy nến: Hy thiêm 16g; hoè hoa, sinh địa, cây cứt lợn, thạch cao, mỗi vị 20g; thổ phục linh, kim ngân hoa, ké đầu ngựa, cam thảo đất, mỗi vị 16g. sắc uống ngày một thang.

11. Chữa tổ đỉa: Hy thiêm 16g, thổ phục linh 20g; ké đầu ngựa, ý dĩ, sinh địa, mỗi vị 16g; kim ngân, tỳ giải, cây cứt lợn, kinh giới, cam thảo đất, mỗi vị 12g. sắc uống, ngày một tháng

.Tác dụng dược lý

Hy thiêm có các tác dụng hạ huyết áp, hạ đường huyết và kháng siêu vi khuẩn bệnh Ranikhet của gia cầm. Lá hy thiém có tác dạng ức chế khá mạnh giai đoạn viêm cấp tính trong thí nghiệm gây phù chân chuột cống trắng bằng kaolin

. Liều tiêm dưới da gây ức chế 50% cường độ viêm cấp là 3,8 g/kg chuột. Lá hy thiêm có tác dụng ức chế yếu giai đoạn viêm mạn tính và gây thu teo với mức độ trung bình tuyến ức chuột cống non.

Tác dụng gây thu teo tuyến ức là một đặc điểm của thuốc ức chế miễn dịch. Liều chết 50% số động vật thí nghiệm xác định bằng đường uống trên

Hy Thiêm 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC