Vị thuốc vần K

Kháo Lông

09:18 12/07/2017

Machilus velutina Champ, ex ßenth.

Tên khác: Rè hương, trúc sinh, hàn nhì thầu,

Họ: Long não (Lauraceae).

Mô tả

         Cây gỗ nhỏ hoặc dạng bụi. Cành có lông. Lá mọc so le, hình trái xoan hoặc bầu dục - thuôn, dài 7,5 - 12,5 cm, rộng 2,2 - 4,5 cm, gốc tròn, đầu thuôn thành mũi nhọn, mép thường gập xuống dưới, mặt trên nhẵn bóng, mặt dưới có lông màu xám nhạt, gân lá nổi rõ; cuống lá đài 1 - 1,2 cm, có lông, có rãnh.

        Cụm hoa mọc ở ngọn và đầu cành thành chùy ngắn dạng xim, dài 2 - 3 cm hoặc hơn, phủ một lớp lông dày màu nâu nhạt: lá bắc dài, hẹp và có lông; bao hoa gồm 6 phiến có lông ở mặt ngoài, nhẵn ở mặt trong, 3 phiến ngoài hơi hẹp hơn; nhị 9, 3 cái phía ngoài không có tuyến, chỉ nhị có lông ở gốc, 3 cái phía trong có 2 tuyến hình thận; bầu nhẵn, noãn hình trứng.

       Quả mọng, đường kính 4 mm, khi chín màu đỏ tía.

       Mùa hoa: tháng 10 - 12, mùa quà tháng 2-3.

Phân bố, sinh thái

        Chi Machilus Ness. có 21 loài ở Việt Nam, trong đó có 3 - 4 loài được dùng làm thuốc, kể cả loài kháo lông (Nguyễn Kim Đào, 2003). Kháo lông phân bố ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La, Hoà Bình, Quảng Trị... Trên thế giới có ở Trung Quốc và có thể cả ở Lào.

       Kháo lông thuộc loài cây gỗ nhỡ, thường mọc rải rác ở ven rừng núi đá vôi hoặc núi đất. Cây cũng thấy trong các quần hệ thứ sinh trên đất sau nương rẫy hoặc đồi cây bụi. Cây mọc ở đồi cây bụi thường sinh trường kém, phân cành sớm và có chiều cao chỉ vài mét.

      Kháo lông ra hoa quả hàng năm vào đầu mùa đông, quả già tồn tại đến tận mùa xuân năm sau, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Gỗ thân kháo lông dùng làm trụ mỏ và trong xây dựng, vỏ có chất nhớt dùng làm gôm và bột hương (nhang).

Bộ phận dùng

     Vỏ.

Tính vị, công năng

       Vỏ cây và vỏ rễ kháo lông có vị ngọt, hơi đắng, tính mát có tác dụng thanh nhiệt, tán ứ, lợi hầu, chỉ huyết [Trung dược từ hải, 1996, tập 2, tr.1593].

       Vỏ cây có tác dụng tiêu viêm, giải độc [Lê Quý Ngưu, Trần Như Đức, 1995, Thuốc trị bệnh từ cây cỏ hoang dại, Sách dịch từ tiếng Trung, Nhà xuất bản Thuận Hoá - Huế, trang 310].

       Vỏ cây tiết ra một chất lỏng, nhầy, dính, khá giống với gôm arable. Khi phơi khô, phần lỏng bốc hơi, chất dính còn lại ở vỏ nghiền thành bột sẽ được bột màu xám nhạt, có mùi thơm giống mùi quế. Bột này nếu tẩm nước sẽ kết dính với nhau

Công dụng

       Vỏ kháo lông được dùng chữa viêm xoang miệng, viêm họng, viêm màng bồ đào, đòn ngã tổn thương, gẫy xương, ngoại thương xuất huyết. Vỏ cây và tinh dầu được dùng làm thuốc chữa cảm gió. Liều dùng 15 - 30g vỏ sắc uống. Dùng ngoài, bột vỏ cây kháo lông dùng uống hoặc phối hợp với lá tươi giã nát, làm thành bánh đắp bó gẫy xương (liều dùng vừa đủ).

Bột vỏ kháo lông phơi khô, dùng làm nhang để thắp cho mùi thơm dễ chịu. Gỗ rất tốt, không mối mọt, dùng để làm đồ gia đình. Dầu hạt dùng trong công nghiệp.

Kháo Lông 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC