Vị thuốc vần K

Kỷ Tử

01:56 12/05/2017

Kỷ Tử Còn gọi là câu khởi, khởi tử, địa cót tử, câu kỳ tử .

Tên khoa học Lycium sinense Mill. (Lycỉum barbarum L. var. sinense Ait).

Thuộc họ Cà Solanaceae. Kỷ tử hay khởi tử (Fructus Lycii) là quả chín phơi hay sấy khô của cây khởi tử Lycium sinense.

A. Mô tả cây

Cây khởi tử là một loại cây nhỏ, cao 0,5-l,5m cành nhỏ, tỉnh thoảng có gai ngắn mọc ở kẽ lá, dài 5cm. Lá mọc so le một số mọc vòng tại một điểm. Cuống lá ngấn 2-6mm. Phiến lá hình mác, đầu lá và phía cuống của lá đều hẹp, hơi nhọn, dài 2-6cm, rộng 0,6-2,5cm, mép lá nguyên. Hoa nhỏ mọc đơn độc ở kẽ lá hoặc có một số hoa mọc tụ lại. Cánh hoa màu tím đỏ. Quả mọng hình trứng dài 0,5-2cm, đường kính 4-8mm. Khi chín có màu đỏ sẫm hoặc vàng đỏ. Hạt nhiều, hình thận, dẹt, dài 2-2,5mm. 'Mùa hoa: tháng 6-9, mùa quả: tháng 7-10.

Kỷ tử và tác dụng chữa bệnh của nó

 B. Phân bố, thu hái và chế biến

Trước đây kỷ tử chỉ là một vị thuốc nhập, gẩn đây ta đã bắt đầu trồng để lấy quả làm thuốc. Trồng bằng hạt hay dâm cành. Gieo hạt vào mùa hạ, tưới nước giữ độ ẩm, sau 7-8 ngày hạt mọc. Khoảng cách cây từ 0,6m đến lm. Có thể cắt cành thành từng mẩu nhỏ 20-25cm. Sau 3 năm có thể thu hoạch. Thời kỳ thu hoạch kéo dài 20-30 năm nhưng thu hoạch cao nhất vào dày và ruột: Hoài sơn lOg, bạch truật 8g, phục linh 6g, trần bì 5g, nước 400ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. năm thứ 10. Quả hái trong 2 mùa hạ và thu vì thời kỳ quả chính kéo dài.

Theo kinh nghiệm trồng của Trung Quốc 1 hecta kỷ tử tốt và sai quả cho 1.500kg quả. Cây 3 năm cho khoảng 500-800 kg/ha. Hái quả cần hái vào sáng sớm hoặc chiều mát, nếu vào giữa trưa nóng quá có thể bị kém chất. Khi mới hái về phải tải mỏng phơi râm mát cho tới khi da bắt đầu nhăn mới phơi chỗ nắng đến thật khô. Nếu sấy phải giữ ở nhiệt độ thấp 30- 45°c. Cho đến nay, khởi tử phần lớn nhập của Trung Quốc. Tại Trung Quốc người ta trổng ở nhiều tỉnh, tại những tỉnh biên giới Việt Nam như Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam đều có. Ngoài ra cây còn mọc và được trổng ờ Nhật Bản, Triều Tiên.

C.Thành phần hóa học

Trong khởi tử có chừng 0,09% chất betain C5HUO2N. ch2 — co CHa 1 I CIĨ3 -ỊN 0 CH3 ' Beừtin Theo Từ Quốc Vân và Triệu Thủ Huấn trong lOOg quả có 3,96mg caroten, 150mg canxi, 6,7mg p, 3,4 mg sắt, 3mg Vitamin c, l,7mg axit nicotinic, 0,23mg amon suníat. Theo một tác giả khác (Ibraghinmôv) trong khời tử có lyxin, cholin, betain 2,2% chất béo và 4,6% chất protein, axit xyanhydric và có thể có atropin.

D. Công dụng và liều dùng

Khởi tử được coi là một vị thuốc bổ toàn thân, dùng trong các bệnh đái đường (phối hợp với các vị thuốc khác), ho lao, viêm phổi, mệt nhọc, gầy yếu, bổ tỉnh khí, giữ cho người trẻ lâu. Liều dùng: 6-15g dưới dạng thuốc sắc hoặc rượu thuốc.

Theo tài liệu cổ, khởi tử có vị ngọt, tính bình, vào 3 kinh phế, can và thận. Có tác dụng bổ can thận, nhuận phế táo, mạnh gân cốt. Dùng chữa chân tay yếu mỏi, mắt mờ, di mộng tinh. Đơn thuốc có khởi tủ

1. Rượu khởi tử Khởi tử 600g, rượu (35-40°) 2 lít. Giã nhỏ khởi tử. Cho rượu vào ngâm trong 2 tuần lễ trở lên. Lọc lấy rượu mà uống. Ngày uống 1-2 cốc con làm thuốc bổ. 

2. Đơn thuốc bổ chữa di tinh: Khởi tử 6g, sinh khương 2g, nhục thong dong 2g, nước 600ml. Sắc còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày.

Chú thích: Ngoài quả khởi tử ra, cây khởi tử còn cho các vị thuốc sau đây:

1. Lá khởi tử (rau củ khởi) nấu canh với thịt để chữa cho ho, sốt.

2. Vỏ cây khởi tử tức địa cốt bÌ-Cortex Lycìi sinensis là vỏ rễ phơi hay sấy khô. Đào rễ vào mùa xuân và mùa thu (từ tháng 10 đến tháng 3-4) rửa sạch đất cát, bóc lấy vỏ phơi hay sấy khô. Muốn cho đẹp, làm như sau: Rễ đào về rửa sạch cắt thành từng đoạn 6-10cm, dùng dao rạch cho đến gỗ, cho vào đồ, vỏ sẽ long ra khỏi gỗ, lấy ra bóc phơi hay sấy khô.

Thành phẩn hóa học: Theo Bộ dược học viện nghiên cứu y học Bắc kinh 1958, trong địa cốt bì có 0,08% ancalioit, 1,7% saponin không có phản ứng anthraglucozit và tanin. Công dụng và liều dùng: Lá và vỏ rễ khởi tử có tác dụng chữa ho, sốt và sốt do ho. Liều dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc.

Theo tài liệu cổ, địa cốt bì có vị ngọt, tính hàn, vào 4 kinh phế, can, thận và tam tiêu. Có tác dụng lương huyết tả hỏa, thanh phế nhiệt, trừ cốt chưng. Dùng chữa ho ra máu, phiền nhiệt tiêu khát, lao nhiệt ra mồ hôi, nhức xương. Người doanh phận không có nhiệt, tỳ vị hư hàn không dùng được.

Đơn thuốc có vị cốt bì trong nhân dân

1. Chữa thổ huyết: Sắc 12g địa cốt bì với 200ml nước mà uống trong ngày.

2. Tiểu tiện ra huyết: Địa cốt bì tươi, rửa sạch giã lấy nước uống. Mỗi lần 25-30g địa cốt bì tươi. Nếu không có tươi, dùng khô sắc cũng được.

3. làm hộ lở loét: Sao nước địa cốt bì mà rửa.

Chú ý:

1. ở nước ta có cây rau củ khởi-Lycium ruthenicum Muưay cùng họ, nhưng chỉ trồng lấy lá nấu canh và chữa ho.

2. Một số nơi khai thác rễ cây bọ mẩy với tên địa cốt bì (xem vị bọ mẩy).

Kỷ Tử 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC