Vị thuốc vần L

Lá Giang

10:13 20/05/2017

Lá giang có tên khác: Chua méo, chua khan, răng bừa hường, dây cao su hồng.

tên nước ngoài: Ecdysanthera rosea Hook, et Arn.

Họ: Trúc đào (Apocynaceae).

Mô tả

Dây leo dạng bụi, thân gỗ, dài 5 - lOm hay hơn. Thân mềm, đường kính khoảng 8 - lOcm, nhẵn, cành non mảnh, màu xanh lục nhạt, cành già màu nâu sẫm. Lá mọc đối, hình trứng, dài 5 - 8cm, rộng 2,5 - 3,5cm, gốc tròn, hơi thuôn, đầu nhọn, mép nguyên, hai mặt nhẵn; cuống dài 0,8 - l,5cm. Cụm hoa mọc thành chùy dài 10 - 20cm, gồm nhiều xim phân đôi; hoa nhỏ rất nhiều tụ họp thành nhóm 3-5 cái, màu trắng phớt hổng; đài 5 răng nhỏ; tràng 5 cánh mỏng; nhị 5, bao phấn hình dải hẹp, hơi nhọn và cong vào phía trong; bầu thượng có 2 lá noãn tự do gồm nhiều noãn.

Quả có hai đại thẳng, dài 8 - 12cm, rộng 5 - 7mm; hạt có chòm lông ở đỉnh. Toàn cây có nhựa mủ trắng. Mùa hoa quả: tháng 4-8.

Lá giang và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Ecdysanthera Hook. et Arn. có 2 loài ở Việt Nam, trong đó một loài được dùng làm thuốc là cây lá giang.

Lá giang phân bố rải rác ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á gồm Lào, Campuchia, Thái Lan và có thể cả Malaysia. Cây cũng có ở đảo Hải Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, lá giang phân bố ở hầu hết các tỉnh thuộc vùng núi thấp và trung du phía bắc như Hà Tây, Hòa Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Ninh Bình, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc. Cây cũng thường gặp ở một số tỉnh ven biển miền Trung như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.

Lá giang thuộc loại dây leo, luôn xanh và ưa sáng, thưòng mọc trong các quần hệ thứ sinh như đồi cây bụi (vùng ven biển), bờ nương rẫy và đặc biệt ở ven rừng thưa núi đá vôi thuộc tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa. Cây sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm, ra hoa quả nhiều nhất là ở các tỉnh ven biển miền Trung. Quả lá giang khi già thưòng mở thành hai mảnh cho hạt thoát ra ngoài. Hạt có túm lông phát tán nhờ gió, nhưng không bay được xa do mào lông rất dễ rụng. Cây bị chặt phát nhiều lần vẫn có khả năng tái sinh. 

Lá của cây lá giang có vị chua thường được dùng để nấu canh chua với cá, thịt.

Bộ phận dùng

Thân, rễ và lá.

Tác dụng dược lý

l. Tác dụng làm mòn sỏi tiết niệu in vitro: Dùng sỏi bàng quang của những bệnh nhân được mổ lấy sỏi ở bệnh viện Việt - Đức, cho vào môi trường nước tiểu nhân tạo và cao lỏng thân cây lá giang với các tỷ lệ khác nhau. Lắc đều theo một quy trình nhất định, có so với đối chứng không có thuốc. Kết quả sỏi mòn nhiều hơn ở lô đối chứng, nhưng không có ý nghĩa thống kê.

2. Tác dụng chống viêm: Trên mô hình gây phù thực nghiệm chân chuột cống trắng bằng cao lanh, nước sắc thân cây lá giang có tác dụng yếu khi cho uống nhưng lại có tác dụng ức chế viêm khá, có ý nghĩa thống kê khi tiêm dưới da.

3. Tác dụng lợi tiểu: Thử nghiệm trên chuột nhắt trắng cho thấy cao lỏng thân cây lá giang tỷ lệ 2:1 vối liều 0,5 ml/20g chuột và saponin chiết từ thân pha thành dung dịch 5%, liều dùng 0,5 ml/20g chuột (1,25 g/kg) có tác dụng lợi tiểu yếu so với hypothiazid.

4. Thử lâm sàng tác dụng trên sỏi tiết niệu: Thử nghiệm được tiến hành ở Bệnh viện Trung ương Quân đội. Cho uống dịch chiết thân cây lá giang, ngày 500ml trong một tháng, số bệnh nhân có kết quả ra sỏi hoặc sỏi giảm qua siêu âm là 67%.

Tính vị, công năng

Lá giang có vị chua, tính mát vào kinh can, có tác dụng tiêu viêm, sát trùng, chỉ khát. Thân cây có tác dụng sinh tân dịch, tiêu thũng, chỉ khát.

Công dụng

Thân cây lá giang được dùng chữa sỏi đường tiết niệu. Ngày 200g sắc lấy 500ml, chia làm nhiều lần uống trong ngày. Dùng liền vài tháng. Rễ và lá (20 - 30g) sắc uống chữa ăn không tiêu, bụng đầy chướng, phong thấp, nhức xương. Dùng ngoài, rễ hoặc lá sắc đặc rửa hoặc lấy lá rửa sạch, giã nát, đắp chữa mụn nhọt, lở ngứa ngoài da, vết thương do chém chặt.

 

Lá Giang 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC