Vị thuốc vần L

Lá Móng

10:20 20/05/2017

Tên đồng nghĩa :Lawsonia alba Lamk.

Lá Móng có tên khác: Lá móng tay, móng tay nhuộm, cây thuốc mọi, chỉ giáp hoa, phượng tiên hoa, khau thiên (Tày).

Tên nước ngoài: Henna plant, samphừe, mignonette tree (Anh); henné (Pháp).

Họ: Tử vi (Lythraceae).

Mô tả

Cây nhỏ, cao 3 - 4 m. Thân nhẵn, phân cành nhiều, đôi khi có gai ở đầu cành. Lá mọc đối, hình bầu đục hoặc hình trứng, gốc thuôn, đầu nhọn, dài 2 - 3 cm, rộng 1 cm, cuống ngắn, mép nguyên; lá kèm rất nhỏ, màu trắng nhạt. Cụm hoa mọc thành chùm phân nhánh ờ ngọn; hoa màu trắng hoặc hổng nhạt, mùi thơm mạnh; đài 4 răng có hai hạch nhỏ ở gốc; tràng 4 cánh ròi, mọc xen kẽ với lá đài; nhị 8 bao quanh bầu có 4 ô. Quả nang, hình cầu, bao bọc trong đài tồn tại; hạt nhỏ, nhiều, không đều. Mùa hoa quả : tháng 9-10.

Lá móng và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Lawsonia L. là chi đơn loài. Ở Việt Nam, chỉ có một loài là cây lá móng. Lá móng có nguồn gốc ở vùng Bắc Mỹ hoặc Tây Nam Á, được trồng rải rác ở vùng nhiệt đới và cân nhiệt đói thuộc Tây Nam Á, Ấn Độ, Bắc Phi, để làm cảnh, lấy lá làm thuốc nhuộm và thuốc chữa bệnh. Ở Việt Nam, lá móng được trồng rải rác quanh bò rào, ở vườn nơi có nhiều ánh sáng, đất ẩm. Cây sinh trưởng mạnh vào mùa xuân - hè; rụng lá vào mùa đông, cây ra hoa quả hàng năm và có khả năng tái sinh vô tính mạnh. Về mùa đông, ngưòi ta thường cắt bớt cành để cây ra nhiều chồi nhánh.

Cách trồng

Lá móng được trồng chủ yếu bằng hạt. Ngoài ra, có thể giâm cành, nhưng kết quả không cao. Hạt lá móng có vỏ dày, trước khi gieo cần ngâm vào nước ấm 50°c trong 1-2 giờ. Thông thường, hạt dược gieo trong vườn ươm vào tháng 2-3, đến tháng 8-9 hoặc mùa xuân năm sau thì đánh cây con đi trồng. Đất trồng lá móng đủ ẩm, không bị. úng ngập. Thường trổng theo hốc, cách nhau 2 - 3 m. Có thể tận dụng đất bò rào, bờ ao để trồng. Cây không cần chăm sóc nhiều. Hàng năm, phát quang cỏ dại, xới xáo 1-2 lần, bón thúc bằng nước phân, nước giải pha loãng. Cây ít bị sâu bệnh.

Bộ phận dùng

Lá dùng tươi hay phơi khô. Thân, rễ, hoa cũng được dùng nhưng ít hơn. 

Tác dụng dược lý

Lá móng có tác dụng kháng khuẩn in vitro đối với các chủng vi khuẩn sau đây (nồng độ tối thiểu ức chế biểu thị bằng |ig/ml ghi trong ngoặc) : liên cầu tan máu (300), các phẩy khuẩn tả Inaba, Ogavva (400), Bacillus subtilis (800), tụ cầu vàng (1200), Salmonella typhi (1200), Sal. paratyphi (1600), trực khuẩn mủ xanh (4000). Lá móng cũng có tác dụng ức chế các vi khuẩn: Shigella shigae, Sh. flexneri, Sh. sonnei, Bacillus subtilis, Escherichia coli, và kháng amip.

Cao lá móng có tác dụng giảm đau và hạ sốt. Cao cồn lá móng và lavvson chiết từ lá móng có tác dụng chống viêm và ức chế hoạt tính của hyaluronidase. Nước sắc lá móng cho chuột cống trắng uống có tác dụng lợi tiểu và lợi mật.

Lá móng ức chế co thắt cơ trơn gây bởi histamin và acetylcholin trên ruột cô lập chuột lang và gây co tử cung cô lập và tại chỗ của chuột cống trắng và thỏ. Cao cồn vỏ thân lá móng, cho chuột cống trắng uống liều 1,5 g/kg, làm giảm có ý nghĩa nồng độ G0T và GPT huyết thanh

Lá móng có tác dụng kháng oestrogen trên chuột nhắt trắng. Cao lá móng được nghiên cứu về tác dụng gây sẩy thai, cao methanol có tác dụng gây sẩy thai ở chuột nhắt trắng, chuột cống trắng và chuột lang mạnh nhất. Tác dụng phụ thuộc vào liều. Lá móng với liều cho chuột nhắt trắng cái uống mỗi ngày 50 mg đã có tác dụng ngừa thai. Tỷ lệ chuột cái không chửa là 50%, so vói ở lô đối chứng, chuột không chửa là 20%. Đã sử dụng hai bài thuốc gồm lá móng phối hợp với lá mỏ quạ, phèn phi hoặc phối hợp vói hoàng đằng, hoàng bá để điều trị cho phụ nữ viêm loét cổ tử cung. Thuốc đáp ứng được yêu cầu điều trị là làm thay đổi độ pH âm đạo, làm giảm tiết dịch, có tác dụng kháng khuẩn đối với vi khuẩn gây bệnh trong phụ khoa, và giúp cho mồ tái tạo nhanh chóng. Áp dụng điều trị cho 360 bệnh nhân lộ tuyến và viêm loét cổ tử cung, kết quả khỏi hoàn toàn 74,5%, đỡ nhiểu 21,8%, đỡ ít 4%.

Tính vị, công năng

Lá móng có vị đắng the, tính ấm, có tác dụng hoạt huyết, thông kinh, giãn gân xương.

Công dụng

Lá móng chữa vấp ngã tổn thương, chảy máu, ứ máu, phụ nữ kinh nguyệt không đều, bụng to, da vàng phù thũng, phong thấp, nhức mỏi, tê bại. Ngày dùng 8 -    20g dạng thuốc sắc. Để chữa con gái chậm thấy kinh, lấy lá móng 30g sắc uống.

Dùng ngoài, lá móng tươi giã nát, trộn vối giấm thanh đắp chữa ghẻ lở, nhọt độc lên mủ, hắc lào, rắn cắn, sâu bọ độc cắn. Nhân dân Campuchia dùng lá móng làm thuốc lợi niệu, chữa ho và viêm phế quản. Ở Ấn Độ, lá móng được dùng để phòng bệnh về da với tác dụng làm săn. Dùng ngoài, dạng bột. nhão hoặc nước sắc trị nhọt, bỏng, vết thâm tím và viêm da. Nước sắc là thuốc súc miệng, trị viêm họng. Lá móng có trong thành phần một bài thuốc cổ truyền Ân Độ để điẻu trị bệnh da, thiếu máu, nhiễm khuẩn, trĩ, rò hậu môn.

Ở Angiêri, lá móng được dùng trong y học dân gian trị loét và rối loạn chức năng gan. Ở Ả Rập Xêút, nhân dân dùng lá móng trị đau, sốt, thấp khớp, ở Nigiêria, nhân dân dùng lá móng ngâm trong nước lạnh trong 3 hoặc 4 ngày, sau đó chắt lấy dịch ngâm và uống ngày 3 lần trong thời kỳ chờ đợi có kinh nguyệt để điều trị kinh nguyệt không đều. Nhân dân vài vùng ở Nigiêria dùng lá móng để gây sẩy thai. 

Bài thuốc có lá móng

1.    Chữa kinh nguyệt không đều, chậm kinh :

a. Lá móng 20g, hoa chổi xuể 8g, thái nhỏ phơi khô, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm 2 lần trong ngày. Phụ nữ có thai không dùng vì có thể bị sẩy thai.

b. Lá móng 20g, hồi đầu 15g. sắc uống.

2. Chữa kinh bế để tránh thụ thai: Lá móng 50g, ích mẫu 40g, nghệ đen 30g. sắc uống mỗi ngày một thang, trong 3 ngày liên tục sau khi giao hợp; hay trước kỳ kinh 3 ngày, mỗi ngày uống một thang cho đến khi thấy kinh mới thôi. Thông kinh thì thai không đậu.

3. Chữa sưng tấy: Lá móng 10g; huyết giác, ngải cứu, mỗi vị 12g; tô mộc 10g; nghệ 8g. sắc uống.

4. Chữa sưng gan: Lá móng 30g; dành dành, huyền sâm, ích mẫu, mộc thông, mỗi vị 15 - 20g. Sắc uống.

5. Chữa bệnh nấm da gây lở ngứa ở kẽ chân, có thể lây sang cả bàn chăn:

a. Lá móng 100g, rửa sạch, giã nát với ít muối, đắp băng lại. Nên đắp vào buổi tối để tránh đi lại. Thay thuốc hàng ngày trong tuần dầu. Tuần thứ hai, cứ 2 ngày đắp một lần, tuần thứ ba cứ 3 ngày đắp một lần. Khi bớt lở ngứa, bong da, bôi nhựa lá lô hội, đắp lá thuốc bỏng hoặc bôi dầu gấc.

b. Lá móng, lá bạch hạc, lá phèn đen, lá trâm bầu, mỗi vị 100g, giã nát, ngâm vào 100 ml rượu trắng. Dùng tăm bông tẩm thuốc bôi 2-3 lần trong ngày.

Lá Móng 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC