Vị thuốc vần L

Lá Ngón

10:48 20/05/2017

Tên đồng nghĩa: Gelsemium sumatranum (Bl.) Gibbs

Lá ngón có tên khác: Ngón vàng, thuốc rút ruột, đoạn trường thảo, co ngón (Thái), khau nguộn (Tày).

Tên nước ngoài: Gelsemium elegans (Gardn. et Champ.) Benth.

Họ: Mã tiền (Loganiaceae).

Mô tả
Cây leo, dài 5 - 7 m. Thân cành hình trụ, nhẩn. Lá mọc đối, hình trứng, gốc tròn, đầu thuôn thành mũi nhọn, mép nguyên, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt. Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành xim dạng ngù; hoa màu vàng; đài 5 răng nhỏ, rời; tràng 5 cánh dính nhau thành ống hình phễu; nhị 5 đính ở phía dưới ống tràng; bầu nhẵn. Quả nang, màu nâu; hạt nhỏ có rìa mỏng bao quanh, mép khía rách. Mùa hoa : tháng 10 -12; mùa quả : tháng 1-3.

Lá ngón và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Gelsemium Juss. có 3 loài trên thế giới, phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới; trong đó 2 loài ở vùng châu Mỹ và 1 loài là lá ngón chỉ thấy ở Nam và Đông Nam châu Á như Ấn Độ (vùng Khasi, Lushai, Manipur); Thái Lan (Chiềng Mai, Krabi, Kanechan buri, Narathiwat); Indonesia (Java, Sumatra); Lào (Kham Muội, Houa Phăn, Xiêng Khoảng); Srilanca; bán đảo Malaysia; Trung Quốc (Quảng Tây, Vân Nam, Hổng Kông) và Việt Nam.

Ở Việt Nam, lá ngón phân bố rải rác ở nhiều tỉnh miền núi như Cao Bằng, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Lâm Đồng (Bảo Lộc), Hà Tĩnh (xã Sơn Lĩnh, huyện Hương Sơn), Quảng Ngãi, Quảng Tri, Kon Tum và Hà Giang (Đèo 9 tầng huyện Đồng Văn)... lá ngón là cây thường xanh, ưa ẩm, ưa sáng hoặc có thể hơi chịu bóng, thường mọc trùm lên các loại cây bụi hay các loại tế guột ở rừng thứ sinh, ven bờ suối hay đổi cây bụi ỏ độ cao từ 300 m (Sơn Lĩnh - Hương Sơn, Hà Tĩnh) đến khoảng 1500 m (huyện Đồng Văn, Hà Giang). Cây ra hoa quả nhiều vào cuối thu - đầu đông. Khi chín quả tự mở để hạt thoát ra ngoài. Xung quanh gốc cây mọc thường thấy nhiều cây con mọc từ hạt. Sau khi bị chặt phá, phần còn lại có khả năng tái sinh cây chồi khỏe.

Bộ phận dùng

Toàn cây gồm lá và rễ.

Tác dụng dược lý

Cây lá ngón rất độc. Trong dân gian, người ta cho rằng chỉ cần ăn 3 lá kèm theo một chén rượu là đủ làm chết một người sau vài giờ. Các chất độc chủ yếu gồm gelsemin, koumin, kouminidin. kouminicin. Độc nhất là rễ rồi đến lá và hoa, thân và quả; thân già độc hơn thân non. Ở Trung Quốc, nước sắc các bộ phận của cây lá ngón được xác định LD50 trên chuột nhắt trắng với kết quả như sau : LD50 của rẻ là 0,079 g/kg, lá 0,225 g/kg, hoa 0,458 g/kg, thân già 1,309 g/kg, thân non 1,830 g/kg và quả 1,275 g/kg. Ở Việt Nam, theo Hoàng Như Tố, thí nghiệm trên chuột nhắt trắng LD50 của rễ (chiết bằng cồn 90°) là 102 mg/kg, lá tươi (chiết bằng nước) 600 mg/kg, lá khô (chiết bằng nước) 200 mg/kg, lá khô (chiết bằng cồn 70°) 150 mg/kg. Theo tài liệu nưóc ngoài, trong các alcaloiđ, kouminicin rất độc, có liều gây chết tối thiểu đối với thỏ là 0,8 mg/kg. Còn alcaloiđ toàn phần của cây được xác định LD50 trên một số súc vật sau: đối vói chuột nhắt trắng bằng phương pháp tiêm tĩnh mạch đuôi, LD50 là 1,113 mg/kg, còn tiêm phúc mạc là 1,235 mg/kg; đối với chuột cống trắng tiêm phúc mạc LD50 là 1,024 mg/kg, đối với thỏ tiêm tĩnh mạch vành tai LDJ0 là 2,14 mg/kg.

Triệu chứng ngộ độc lá ngón là khát nước, sốt, đau rát họng, đau bụng, nôn mửa, tiếp theo là hoa mắt, răng cắn chặt, sùi bọt mép, thân nhiệt hạ, huyết áp hạ, cuối cùng chết do ngừng hô hấp. Nếu phát hiện sớm, phương pháp giải độc là thải chất độc ra ngoài cơ thể bằng cách làm cho nạn nhân nôn mửa, tiến hành rửa dạ đày, tiêm truyền huyết thanh mặn ngọt, giữ ấm cơ thể và điểu trị triệu chứng như huyết áp hạ (tiêm ephedrin), khó thở (tiêm niketamid), đổng thời cho thở oxy hoặc làm hô hấp nhân tạo. Thí nghiệm trên súc vật đã xác định cơ chế tác dụng của alcaloid lá ngón là tác động vào hệ thống men hô hấp gây nên rối loạn trong tế bào, dẫn tới tình trạng thiếu oxy nghiêm trọng, gây co giật và liệt cơ. Các thuốc ngăn cản sự ức chế men và bảo vệ men như chất ATP có thể đùng để ngăn ngừa và điều trị ngộ độc lá ngón. Chất ATP làm giảm tỷ lệ chết của chuột nhắt từ 52% xuống 25% và cứu được tất cả thỏ đã bị ngộ độc bằng liều gây chết của lá ngón. Ngoài ra, lá ngón còn có một số tác dụng dược lý như sau :

- Đối với hệ tim mạch: Alcaloid toàn phần của cây lá ngón đối với tim ếch cô lập và tại chỗ có tác dụng ức chế sức co bóp cơ tim, đồng thời làm giảm nhịp tim và tốc độ dẫn truyền các xung. Chất gelsemin có tác dụng ức chế bộ phận cảm nhận M.cholin, nên có khả năng ức chế phản xạ hạ huyết áp do kích thích dây thần kinh phế vị hoặc do tiêm acetylcholin gây nên.

- Đối với hệ thống máu: Alcaloid toàn phần của cây lá ngón thí nghiệm trên chuột nhắt trắng vói liểu 0,15 - 0,41 mg/kg/ngày, tiêm xoang bụng trong 7 ngày liên tiếp,, có tác dụng làm tăng số lượng hồng cầu, protein và globulin trong huyết thanh, đối với hồng cầu có tác dụng bảo vệ nhất định. Dùng với liều 0,41 mg/kg ở những động vật bị chiếu xạ có tác dụng làm tăng thể trọng và tăng cường tác dụng bảo vệ chuột được sống sót (25%).

- Các tác dụng khác: Chất gelsemin trên chuột nhắt trắng có tác dụng giảm đau, nhưng liều điều trị và liều gây độc rất gần nhau, nên rất khó sử dụng trong điều tộ, mặc dầu đã có tài liệu đề cập đến việc sử đụng gelsemin chữa đau dây thần kinh. Trên tiêu bản ruột non và tử cung cô lập của thỏ, gelsemin dùng với liều bé có tác dụng kích thích, liều lớn gây ức chế. Cây lá ngón và gelsemin còn có tác dụng làm giãn đồng tử. Tính vị, cõng năng Theo lý luận trung y Trung Quốc, cây lá ngón có vị đắng, tính ôn, có tác dụng khu phong, công độc, tiêu thũng, chỉ thống.

Công dụng Ở Việt Nam, cây lá ngón không được dùng làm thuốc mà chỉ dùng như một chất độc đầu độc hoặc dùng nhầm bị ngộ độc. Ở Bắc Mỹ và Trung Quốc, lá ngón là thuốc giảm đau, nhưng cũng rất ít được dùng.


 

Lá Ngón 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC