Vị thuốc vần L

Lai

10:54 20/05/2017

Tên đồng nghĩa: Aleurites triloba Forst.

Lai có tên khác: Thẩu xoan, mạy lải (Tày), co ly (Thái).

Tên nước ngoài: Indian walnut, candle nut (Anh); noyer de Moluques, bancoulier, aleurité (Pháp).

Họ: Thầu dầu (Euphorbiaceae).

Mô tả

Cây to, có thể cao đến 10 m. Cành nhỏ có cạnh và có lông ngắn hình sao. Lá mọc so le, thưòng tụ tập ở đầu cành, hình bầu dục, dài 8-20 cm, rộng 4-10 cm, nguyên hay chia thùy, gốc lá có hai tuyến nhỏ, đầu nhọn, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt; lá non có màu lục xám nhạt, có lông mịn.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá gần ngọn thành chùy gồm nhiểu ngù nhỏ; hoa đơn tính, màu trắng, đực và cái riêng, cùng gốc hay khác gốc; hoa đực có cuống mảnh; hoa cái có cuống mập; đài gồm 2-3 thùy phủ lông hình sao; tràng 5 cánh mỏng, có túm lông ở gốc; hoa đực có 12 nhị hoặc hơn; hoa cái có bầu hình cầu, hơi dẹt, phủ lông hình sao.

Quả hạch hình thoi hoặc gần tròn, có 2 ô, mỗi ô chứa một hạt hình trứng, vỏ ngoài nhăn nheo màu đen, rất cứng. Mùa hoa : tháng 4-7; mùa quả : tháng 9-11.

Lai và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Aleurites Forst, có 6 - 7 loài trên thế giới, đều là cây gỗ, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, tập trung nhiều nhất ỏ khu vực Ấn Độ - Maylaysia và Đông Á. Ở Việt Nam, chi này có 2 - 3 loài. Cây lai có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Ân Độ - Malaysia, sau được nhập trồng rộng rãi ở khắp các nước vùng Đông và Đông - Nam - Á, nhiêu nhất ò Philippin và Trung Quốc.

Ở Việt Nam, cây lai được trổng chủ yếu ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang... Hiện nay cày đã trò nên hoang dại hóa, mọc lẫn với cây rừng.

Lai thuộc loại cây gỗ mọc nhanh; trổng từ hạt, sau 5-6 năm bắt đầu có hoa quả. Cây trên 10 năm tuổi là thời kỳ thành thục tái sinh, một cây to có thể cho thu hoạch vài trăm kilôgam quả. Những cây già gần như không có khả năng tái sinh cây chổi sau khi chặt. Cây trồng chủ yếu bằng hạt.

Bộ phận dùng

Hạt và dầu. 100 quả khô cho 7 - 16 kg hạt; 100 icg hạt ép được 40 - 45 kg dẩu. Vò thân thu hái quanh nãm, cạo sạch lớp bần, rửa sạch phơi khô cũng được dùng.

Tác dụng dược lý

Khi ép lấy dầu lai, chất gảy tẩy chủ yếu ở khô dầu, nhưng một phần vào dầu, nên dầu lai vẫn gây tẩy cho người, thậm chí ở liều 1-5 ml.

Tính vị, công năng

Hạt lai có vị ngọt, bùi, béo, có độc, có tác dụng nhuận tràng, gây tẩy, sát trùng.

Công dụng

Dầu hạt lai gây tẩy mạnh, chỉ cần 1 - 5 ml đã có tác dụng. Do đó, dầu ít được dùng để ăn. Dầu lai chủ yếu dược dùng làm nguồn pha sơn, verni. Ngoài ra, còn là dầu thắp sáng và để nấu xà phòng. Khô dầu muốn cho súc vật ăn cũng phải khử độc. Hạt lai chữa chàm, chốc ở trẻ em; vỏ thân chữa sâu răng, đau răng; lá chữa bong gân, sai khóp. Ở Malaysia, ngưòi ta dùng nhân hạt lai giã đắp chữa đau đầu, mụn nhọt. Ở Indonesia, vỏ thân cây lai chữa lỵ, lá hãm uống trị tràng nhạc. Ở Philippin, hạt được đùng làm thuốc tẩy với liểu nhỏ, liều cao lại gây độc.

Bài thuốc có lai

1. Chữa đau răng, sâu răng: Vỏ thân cây lai, cạo sạch lóp bần bên ngoài, thái nhỏ, phơi khô. Lấy 10g sắc với nước cho đặc, ngậm hồi lâu rồi nhổ đi, hoặc phối hợp với vỏ cây trám, rễ cà dại, rỗ chanh cũng sắc và ngậm như trên. Có thể ngâm rượu, trong 5-7 ngày để dùng.

2. Chữa chàm chốc ở trẻ em: Hạt lấy ở quả đã chín già, đập vỡ vỏ lấy nhân. Giã nhỏ nhân hạt với cây cóc mẳn, trộn với ít rượu, bôi hàng ngày lên vết chàm, chốc. Có thể lấy nhân hạt phơi khô, dốt thành than, tán mịn, trộn với mỡ lợn rồi bôi.

3. Chữa bong gân sai khớp: Lá lai bánh tẻ 20g, vỏ cây gạo 30g, lá cây chẹo (Engelhardlia roxburghiana Wall.) 20g. Tất cả dùng tươi, trộn vối bã chè tươi 20g, giã nát, xào nóng, đắp và băng. Ngày làm một lần. Dùng 4-5 ngày.

Lai 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC