Vị thuốc vần L

Lô Hội

10:24 20/05/2017

Aloe vera L. var. chinensis (Haw.) Berger

Tên đồng nghĩa: Aloe perfoliata Lour.

Tên khác: Lưỡi hổ, hổ thiệt, lư hội, nha đảm.

Họ: Lô hội (Asphodelaceae).

Mô tả

Cây thảo nhỏ, sống lâu năm. Thân ngắn hóa gỗ, mang nhiều vết sẹo do lá rụng. Lá không cuống, gốc tầy và rộng, mọc áp sát vào nhau thành hình hoa thị, đầu thuôn dài thành mũi nhọn, phiến rất dày, mọng nước, dài 15 - 20 cm, rộng 1-2 cm, mặt trên phẳng hoặc hơi lồi, có những đốm trắng, mặt dưới khum, mặt cắt tam giác, mép có gai thưa và cứng, cắt lá thấy có nhựa vàng nhạt chảy ra.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùm trên một cán dài, mang rất nhiều hoa bao bọc bởi những lá bắc màu đỏ, mọc rủ xuống; bao hoa nạc màu vàng cam, có 6 phiến dính liền ở gốc; 6 nhị hơi dài hơn bao hoa, bầu rời có 3 ô.

Quả nang, hình trứng thuôn, khi chín màu nâu, chứa nhiều hạt.

Mùa hoa quả : tháng 3-5.

Có nhiều loài lô hội khác nhau về kích thước đều được sử dụng.

Cây dễ nhầm lẫn:

Cây lưỡi hổ (Sauropus rostratus Miq.) thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) (xem Cam sũng).

Lô hội và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Chi Aloe L. có khoảng 330 loài trên thế giới, phân bố ở vùng nhiệt đới châu Phi, Mađagasca và Ả Rập... Trong đó, Nam Phi, Ethiopia và Bắc Sômali là những trung tâm có sự đa dạng cao nhất về các loài của chi này. Trong số 330 loài, đã có 100 loài và các dạng lai được trồng khá phổ biến ở khắp các vùng nhiệt đới thuộc Bắc Mỹ, Caribê, châu Phi, Nam Á và Đông Nam Á, Australia. Cây lô hội được trồng nhiều ở các nước Thái Lan, Campuchia, Malayisa, Ân Độ, Indonesia, Philippin và Việt Nam. Cây được nhập vào Malaysia từ thế kỷ 16. Chưa rõ thời gian nhập trồng ở Việt Nam. Về nguồn gốc nguyên thủy của loài, có thể từ Ả Rập.

Ở Việt Nam, lô hội được trồng rải rác ở khắp nơi, nhiều nhất là các tỉnh phía nam và ven biển miền Trung. Cây được trồng ở chậu hay trên đồng ruộng để làm cảnh và làm thuốc. Lô hội là cây có biên độ sinh thái khá rộng, thích nghi với nhiều loại đất, kể cả đất pha cát hoặc chỉ có cát. Cây có khả năng chịu hạn tốt do khả năng giữ nước của lá (lá mọng nước), sinh trưởng phát triển mạnh trong điều kiện chiếu sáng đầy đủ và ra hoa quả nhiều.

Cách trồng

Lô hội là cây nhập trồng từ lâu đời. Hiện nay, cây mọc tự nhiên được phát hiện ở vùng bờ biển Bình Thuận và Yên Bái.

Cây được trồng chủ yếu bằng mầm. Mầm có thể tách và trồng quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa xuân. Ở quy mô lớn hơn, cần làm đất, lên luống và trồng với khoảng cách 30 X 30 cm hay 30 X 40 cm. Muốn cho cây mọc khoẻ, lá to, cần bón lót phân chuồng. Sau khi trồng và sau mỗi lần thu hoạch lá, bón thúc thêm nước phân chuồng, nước giải hoặc đạm pha loãng. Chú ý không tưới phân lên ngọn cây vì dễ làm thối nõn và lá non. Cây ít có sâu bệnh, cần giữ cho cây không bị ngập úng.

Bộ phận dùng

Lá, thu hái quanh năm dùng tươi hoặc điều chế thành nhụa lô hội bằng cách cắt lá, loại bỏ lóp biểu bì lấy hết khối nhựa trong suốt, sấy ở nhiệt độ khoảng 50°c. Cũng có thể ép lá lấy dịch, đem cô cách thủy đến khô.

Thành phần hóa học

Lá lô hội chứa khoảng 13,6% các chất thuộc nhóm hydroxymethylanthraquinon như aloin A (barbaloin A), aloin B, isobarbaloin (C2IH2209). Trong nhựa lô hội, nhóm này chiếm 30 - 40%.

Nhóm anthraquinon gồm các hợp chất chính như emodin, aloemodin (C15H10O6), acid chrysophanic và aloeresistanol.

Nhóm glucosyl chromon có các chất aloeresin A, B, c.

Nhóm polysaccharid có glycomannan, galactan, acemanan galacturonan.

Ngoài ra, lá lô hội còn chứa các acid amin, enzym, phytosterol và muối khoáng.

Tác dụng dược lý

- Nhựa khô lá lô hội có tác dụng kích thích chuyển động của ruột kết, tăng sự đẩy về phía trước và thúc đẩy nhanh phân qua ruột kết, làm giảm hấp thu dịch từ khối phân; đồng thời, làm tăng độ thấm quanh tế bào qua niêm mạc ruột kết, có lẽ do ức chế Na+, K+, adenosin triphosphatase hoặc do ức chế kênh clorid dẫn đến làm tăng lượng nước trong đại tràng.

Trên lâm sàng, tác dụng tẩy của lô hội chủ yếu do các glycosid 1,8- dihydroxyanthracen, các aloin A và B. Sau khi uống, các aloin A và B không hấp thu ở ruột non, bị thủy phân trong ruột kết bởi vi khuẩn ở ruột và biến đổi thành những chất chuyển hóa có hoạt tính, mà chất chính là aloe - emodin - 9 - anthron có tác dụng kích thích và kích ứng đưòng tiêu hóa. Tác dụng tẩy của lô hội thường không xuất hiện trước 6 giờ sau khi uống mà đôi khi phải sau 24 giờ hoặc hơn mới xuất hiện.

Khi dùng quá liều, triệu chứng ngộ độc chủ yếu là đau quặn bụng và tiêu chảy nặng với hậu quả là mất dịch và mất chất điện giải. Điều trị nâng đỡ bằng truyền dịch. Theo dõi chặt chẽ chất điện giải, đặc biệt là kali, nhất là ở trẻ em và người già.

- Thuốc gel lô hội là gel nhầy thu được từ tế bào nhu mô lá tươi lô hội. Thuốc gel lô hội có những tác dụng dược lý như sau :

Làm lành vết thương : Nghiên cứu lâm sàng cho thấy gel lô hội làm mau lành vết thương. Nghiên cứu thực nghiệm in vivo chứng minh gel lô hội làm mau lành vết thương do kích thích trực tiếp hoạt tính của đại thực bào và nguyên bào sợi. Các nguyên bào sợi được hoạt hóa bởi gel lô hội làm tăng sự tổng hợp của colagen và proteoglycan, do đó thúc đẩy sự lành vết thương.

Một số hoạt chất là polysaccharid gồm nhiều monosaccharid, chủ yếu là manóse. Như vậy, chất manóse - 6 - phosphat có trong gel có thể chịu trách nhiệm một phần về tác dụng làm lành vết thương của gel. Manóse 6 - phosphat có thể gắn với thụ thể của yếu tố sinh trưởng trên bề mặt của nguyên bào sợi và do đó làm tăng hoạt tính.

Ngoài ra, acemannan là một phức hợp carbohydrat phân lập từ lá lô hội, được chứng minh làm mau lành vết thương và giảm phản ứng da do phóng xạ. Có 2 cơ chế tác dụng : một là acemannan là một chất gây hoạt hóa mạnh các đại thực bào và do đó có thể kích thích giải phóng cytokin tạo fibrinogen, hai là yếu tố sinh trưởng có thể gắn trực tiếp vối acemannan, làm tăng độ ổn định và kéo dài sự kích thích mô hạt.

Công dụng điều trị của gel lô hội gồm : dự phòng thiếu máu cục bộ da tiến triển gây bởi bỏng, cước và thương tổn lạnh giá, thương tổn do điện và sự lạm dụng tiêm thuốc động mạch. Nghiên cứu thương tổn in vivo cho thấy lô hội có tác dụng ức chế thromboxan A2, một chất trung gian trong thương tổn não tiến triển. Nhiều cơ chế khác giải thích tác dụng của gel lô hội gồm kích thích bổ thể liên kết với polysaccharid, tác dụng thủy hợp, tác dụng cách ly và bảo vệ của gel.

Vì nhiều thành phần có hoạt tính bị hư hỏng trong khi bảo quản, nên dùng thuốc gel mới bào chế. Nghiên cứu trên sự phát triển của tế bào bình thường của người cho thấy sự sinh trưởng của tế bào và sự gắn tăng lên khi cho tác dụng lá lô hội tươi, trong khi chế phẩm gel lô hội được làm ổn định có tác dụng độc hại tế bào với cả tế bào bình thường và tế bào khối u. Tác dụng độc hại tế bào của gel được ổn định có lẽ do có thêm những chất khác trong quá trình xử lý.

Tác dụng chống viêm : Một số nghiên cứu in vivo và in vitro chứng minh hoạt tính chống viêm của gel lô hội. Làm giảm viêm cấp tính ở chuột cống trắng, không tác dụng trên viêm mạn tính. Có thể tác dụng chống viêm là do hoạt tính của bradykinase và do ức chế thromboxan B2 và prostaglandin F2. Ba sterol thực vật có trong lô hội làm giảm viêm cấp tính trên chuột nhắt trắng, trong đó lupeol có tác dụng mạnh nhất.

Trong điều trị bỏng, gel lô hội bị chống chỉ định đối với người dị ứng với các cây họ Hành tỏi.

Tính vị, công năng

Lô hội có vị đắng, tính hàn, vào 4 kinh : can, tỳ, vị, đại tràng, có tác dụng thanh nhiệt, làm mát gan, thông đại tiện, nhuận tràng, tẩy.

Công dụng

1. Lô hội được dùng trị táo bón cấp tính. Dùng liều cần thiết nhỏ nhất để làm phân mềm. Liều nhuận tràng cho người lớn và trẻ em trên 10 tuổi là 0,04 - 0,1 lg dịch ép khô lá lô hội, tương đương với 10 - 30mg hydroxyanthraquinon trong một ngày, hoặc uống một liều 0,1 g vào buổi chiều.

Không dùng lô hội trong những trường hợp sau : tắc hoặc hẹp ruột, mất trương lực, mất nước, mất điện giải nặng, hoặc táo bón mạn tính, viêm ruột thừa, bệnh Crohn, viêm ruột kết loét, hội chứng kích thích ruột, hoặc viêm túi thừa ruột, co cứng cơ, cơn đau bụng, trĩ, viêm thận hoặc những triệu chứng ở bụng không được chẩn đoán như đau, buồn nôn hoặc nôn, trẻ em dưới 10 tuổi và phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.

Tác dụng không mong muốn có thể xảy ra như đau quặn bụng, phân lỏng. Sự lạm dụng mạn tính có thể gây viêm gan. Dùng làm thuốc nhuận tràng thời gian dài có thể gây rối loạn chất điện phân, hạ kali máu và calci - máu, nhiễm acid chuyển hóa, khó hấp thu, sút cân, albumin - niệu, huyết niệu, yếu ớt hoặc hạ huyết áp thể đứng có thể tăng ở người già. Chứng tăng aldosteron thứ phát có thể xảy ra do thương tổn tiểu quản thận, sau khi dùng liều cao. Đã nhận xét thấy giảm albumin máu, bài tiết calci quá mức trong phân và nhuyễn xương cột sống, bệnh nhiễm melanin kết tràng ở người uống thuốc nhuận tràng anthraquinon trong thời gian kéo dài, sự nhiễm sắc tố vô hại về lâm sàng và thường hồi phục trong vòng 4-12 tháng sau khi ngừng thuốc.

2. Gel lô hội được dùng trong y học cổ truyền để điều trị vết thương và viêm da nhẹ, bỏng, vết thâm tím và vết trầy da, nhất là những vết bỏng do nhiệt ở độ I và II, và bỏng do phóng xạ đều khỏi nhanh và ít có sẹo.

Dùng gel mới pha chế vì để lâu dễ bị phân hủy do men, do oxy hóa hoặc vi khuẩn.

Không dùng gel lô hội bằng đường uống, vì không có tác dụng điều trị chắc chắn.

Trong y học dân gian, gel lô hội được dùng ngoài chữa trĩ, trứng cá, vảy nến, viêm da tăng tiết bã nhờn và nhiễm nấm, côn trùng đốt, mẩn ngứa do con giời leo.

Dùng gel mới bào chế hoặc chế phẩm chứa 10 - 70% gel lô hội.

Tác dụng không mong muốn: Một số ít trường hợp có viêm da tiếp xúc và cảm giác bỏng da sau khi bôi tại chỗ gel lô hội trên da bị trầy xước. Cũng có phản ứng dị ứng bọng nước cấp tính và mày đay tiếp xúc do dùng gel lô hội.

Bài thuốc có lô hội

Bột lô hội 0,05g, cao mật bò tinh chế 0,05g, phenolphtalein 0,05g, bột cam thảo 0,05g, tá dược vừa đủ cho một viên.Ngày uống 2 viên sau bữa ăn chiều. Không dùng liên tục trên 1-2 tuần để tránh nguy cơ mất cân bằng chất điện phân (Viên nhuận tràng).

Lô Hội 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC