Vị thuốc vần L

Lộc Vừng

02:51 26/04/2017

Barringtonia acutangula Gaertn.

Tên đồng nghĩa: Barringtonia luionensis (Presl) Vidal

Tên khác: Cây vừng, cây chiếc, ngọc nhị, tam lang.

Tên nước ngoài: Indian oak (Anh), bonnet carré (Pháp).

Họ: Lộc vừng (Lecythidaceae).

Mô tả

Cây to, cao 8 -10 m. Cành già có vỏ màu nâu đen. Lá mọc so le, nhưng thường tụ tập ở đầu cành như kiểu mọc vòng, dày và nhẵn, hình bầu dục thuôn, gốc thót lại, đầu tù hoặc nhọn, dài 5 - 12 cm, rộng 3 - 8cm, mép khía răng nhỏ và đều, mặt trên xanh sẫm bóng, mặt dưới nhạt; cuống lá ngắn, thường có màu đỏ.

Cụm hoa mảnh, mọc thõng xuống ở đầu cành thành bông dài 40 cm hay hơn; hoa nhiều màu đỏ nhạt; đài có ống hình chuông; tràng 4 cánh mỏng, sớm rụng; nhị nhiều, chỉ nhị và vòi nhụy màu đỏ thẫm; bầu hạ, hình trứng, 2 ô.

Quả thuôn hay hình bầu dục, dài 2,5-3 cm, có 4 cạnh lồi, mỗi cạnh xẻ rãnh dọc, đựng một hạt.

Mùa hoa : tháng 7; mùa quả : tháng 9

Phân bố, sinh thái

Chi Barrỉngtonia Forst có khoảng 45 loài trên thế giới, thường là cây gỗ hoặc cây bụi, phân bố ở các vùng nhiệt đới. Ở Việt Nam có 14 loài.

Lộc vừng là cây nhiệt đới châu Á, phân bố ở Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Ân Độ, Xri Lanca, Mianma và Việt Nam. Ở Việt Nam, lộc vừng phân bố rải rác ở các tỉnh trung du, vung núi thấp và đôi khi ở đồng bằng như Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hòa Bình, Hà Tây, Quảng Ninh, Ninh Bình, Hà Nam, Thanh Hóa...

Đó là loại cây gỗ thưòng xanh, mọc ỏ gần bờ nước hay ven rừng ẩm. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm. Khi quả chín rơi xuống nước, chỉ có những quả mắc vào bờ mới có cơ hội nảy mầm thành cây con. Lộc vừng có khả năng tái sinh vô tính khỏe. Sau khi cây bị chặt, phần còn lại đều tái sinh cây chồi.

Gốc lộc vừng bị mất rễ, vẫn có thể sống khỏe và sinh trưởng, phát triển tốt trong môi trường có đủ nước. Do đó, cây lộc vừng đã trở thành đối tượng bị săn lùng ráo riết để làm cây cảnh (bon sai).

Bộ phận dùng

Vỏ thân, thu hái quanh năm, phơi khô. Rễ, quả, hạt dùng tươi.

Thành phần hóa học

Quả lộc vừng chứa 6,31% protein, 0,35% chất béo, 1,33% đường, 4,08% tinh bột, 2,26% tanin, 2 saponin (1 chất là độc). (E.Cousin và cs, 1941).

Hạt chứa một glucosid triterpenoid là 2a, 3ß, 19a - trihydroxyolean - 12 - en - 23, 28 - đioic acid 28-0 - ß - glucopyranosid (Pal Bikas c. và cs (CA. 116 191020c).

Hạt còn chứa các saponin : baringtosid A [3 - o - ß - D - xylopyranosyl (1 -» 3) - [ß - D - galactopyranosyl (-> 2)] - ß - D - glucopyranosyl baringtogenol C; baringtosid B:3-0-ß-D- xylopyranosyl (1 3) - - D - galactopyranosyl (-> 2] - ß - D - glucopyranosyl - 21 - o - tigloyl - 28 - o - isobutyryl baringtogenol C; baringtosid C ; 3 - o - cx - L. arabinopyranosyl (1 -» 3) - [ß - D - galactopyranosyl (1 -» 2)] - ß - D - glucopyranosyl baringtogenol c. (Pal Bikas c. và cs, CA 121, 301097h).

Tính vị, công năng

Theo kinh nghiệm nhân dân, vỏ thân lộc vừng có tác dụng săn se. Theo tài liệu nưóc ngoài, rễ có vị đắng, kích thích tiêu hóa; gỗ có tính chất cầm máu.

Công dụng

Vỏ thân lộc vừng được dùng chữa đau bụng, tiêu chảy, sốt với liều 8 - 16g, sắc nước uống. Quả lộc vừng còn xanh, ép lấy nước, bôi chữa chàm, hoặc nghiền nhỏ ngâm với rượu để ngậm chữa đau răng (không nuốt nước). Quả và rễ lộc vừng giã nhỏ còn được dùng để duốc cá.

Ở Campuchia, người ta dùng vỏ thân lộc vừng sắc uống chữa bệnh tiêu chảy, lậu và sốt rét. Dùng ngoài, vỏ thân giã nát đắp hoặc dùng nước sắc bôi tại chỗ chữa vết thương do côn trùng độc cắn. Gỗ lộc vừng mài với nước có tác dụng chữa rong kinh. Ở Philippin, vỏ thân lộc vừng chữa vết thương. Hạt dùng để duốc cá. Ở Ấn Độ, quả và hạt lộc vừng giã nát, đắp lên ngực chữa cảm lạnh, đắp lên bụng chữa đau bụng và đầy hơi.

 

 

Lộc Vừng 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC