Vị thuốc vần L

Lồng Đèn

02:29 11/07/2017

Physalis peruviana L.

Tên đồng nghĩa:  Boberella peruviana (L.) Krause

Tên khác:  Thù lù lông.

Tên nước ngoài: Ground cherry, cape gooseberry (Anh); lanterne, amour - en - cage (Pháp). 

 Họ :Cà (Solanaceac).

Mô tả

Cây thảo, sống hằng năm, cao 60 - 80 cm. Thân hình trụ, phân cành nhiều, phù lông mềm. Lá mọc so le, hình bầu dục hoặc gần tam giác, gốc bằng hoặc hình tim, đầu nhọn, mép nguyên hoặc có răng nhỏ, hai mặt có lông dày hơn ở mặt dưới.

Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá, màu vàng, điểm màu tím ở gốc; đài hình chuông, xẻ đến tận giữa thành 5 răng hình mác nhọn; tràng hợp có ống hình chuông, phủ nhiều lông tơ ở mặt ngoài, 5 thuỳ ngắn; nhị 5, đính ở gốc ống tràng, bao phấn màu tím; bầu 2 ô chứa nhiều noãn.

Quả mọng, hình cầu, nhẵn, màu vàng, bao bọc bởi đài hoa tồn tại, hạt hình đĩa, màu vàng.

Phân bố, sinh thái

Chi Physalis L. ở Việt Nam hiện đã biết chắc chắn có 4 loài, trong đó có một loài nhập trồng làm cảnh và 3 loài mọc tự nhiên vốn có. Loài lồng đèn hay còn gọi là thù lù lông trên đây có kích thước lớn nhất trong 4 loài hiện có. Cây phân bố tự nhiên ở một số tinh miền núi như Bắc Cạn (Ba Bể), Lào Cai (Bắc Hà), Bắc Giang (Hiệp Hoà), Hà Tây cũ (Ba Vì). Lâm Đồng (Đà Lạt),...

 Lồng đèn thuộc loại cây thào ưa ẩm, ưa sáng và cũng có thể hơi chịu bóng. Cây thường mọc lẫn với cây trồng ở vườn hay ở nơi đất ẩm trên nương rẫy, ven đường đi xen lẫn một số loài cỏ dại; độ cao phân bố có thể tới hơn 1.000m. Có tài liệu cho rằng đây là cây nhập trồng lấy quả làm rau ăn (Võ Vãn Chi, 1997). nhưng thực tế cây có mọc tự nhiên và ở một vùng nào đó người ta có thể trồng. Cây mọc từ hạt vào khoảng tháng 3 - 4, sau 2 - 2,5 tháng đã ra hoa quả và sau khi quả già. cây sẽ tàn lụi vào mùa thu hàng năm.

Bộ phận dùng

Toàn cây và quả.

Thành phần hoá học

Cây lồng đèn cỏ chứa protein, carbohydrat. chất khoáng, kim loại nặng, caroten và các acid hữu cơ như acid clorogenic, acid béo (The wealth of the India, 1969). Ngoài ra đã phân lập được các bioflavonoid nlnr kaempferol, saponin vô định hình, glucosid đắng, phytosterol.

Theo “Trung dược đại từ điển” (1993) từ cây lồng đèn người ta đã phân lập được một số chất khác như: withanolid, withaperuvin E, D, F, G và H physalolacton, 4ß - hydroxywithanolid E, perulaclon, prulacton B, physaporuvin, ß - ionon. ß - damascenon và acid stearic (CA, 1948, 1958, 1963), [Phytochem. 1984, 1987].

Theo Stephan Nicolov (2006) và Andrew Chevallier (2006) loài p.alkekengi có chứa chất đắng physalin, flavonoid, tanin, acid carboxylic, carotenoid, chất nhày, phytosterol và vitamin c. Rễ loài này chứa alcaloid thuộc nhóm tropan có tác dụng kháng oestrogen. 

Loài lồng đèn nhỏ mọc ở phía Bắc nước ta (P.minima) có vị cay và đắng là do withaphysalin, physalindicanol A và B (Phạm Hoàng Hộ, 2006). Ngoài ra còn có withaferin A, physaiin D và L có tác dụng kháng u.

Từ loài tầm bóp (p.angulata L.). năm 2005 Kuo p.c et al. đã phân lập thêm được một số hợp chất dạng physalin Steroid mới và đặt tên là physalin T, u và V.

 Tác dụng dược lý

1. Tác dụng, trên tế bào ung thư

Physalin B được phân lập từ toàn cây lồng đèn có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư in vitro. Trên tế bào ung thư mũi hầu của người, nồng độ ức chế 50% (ICso) là 3,1 ng/ml, và trên tế bào ung thư bạch cầu của chuột nhắt trắng IC50 = 0,89 ng/ml. Chất 5a, 6a - epoxyphysalin được bán tổng hợp từ physalin B cũng có tác dụng ức chế mạnh tế bào ung thư mũi hầu người và tế bào ung thư bạch cầu chuột nhắt trắng. Trên chuột nhắt trắng bị bệnh ung thư bạch cầu, physalin B với liều 300 mg/kg có tác dụng làm giảm số tế bào ung thư bạch cầu là 37% so với lô chuột đối chứng không dùng thuốc [Chang 1992: 267],

Cao chiết nước và cao ethanol toàn cây lồng đèn đã được nghiên cứu trên 3 dòng tế bào u gan người là Hep G2, Hep 3B và PLC/PRF/5. Kết quả cho thấy cao ethanol có tác dụng mạnh hơn cao nước (với IC50 nhò hơn) và có tác dụng mạnh nhất trên dòng tế bào Hep G2. Một điều lý thú là cả cao nước và cao ethanol đều không độc trên tế bào gan chuột nhắt trắng bình thường. Ở tất cả các nồng độ, cao lồng đèn đều làm ngừng chu kỳ tế bào và gây sự chết tế bào theo chương trình (apoptosis) với chức năng của ty thể bị rối loạn. Kết luận trên là dựa vào các quan sát sau: a) Cao lồng đèn gây giảm điện thế màng và làm giảm hàm lượng glutathion theo cách phụ thuộc liều; b) Xử lý trước với một chất chống oxy hoá (như vitamin E nồng độ 1,0 ug/ml) sẽ bảo vệ được tế bào chống lại sự giải phóng các chất oxy hoá do cao lồng đèn; c) Ở nồng độ từ 10 - 50 ug/ml, cao lồng đèn gây tích lũy các tế bào pha Gi (thời kỳ trước lúc tổng hợp AON) phụ thuộc liều (liều càng lớn, càng nhiều tế bào ở pha G|) và gây ra sự ngừng ở pha Go chuyển sang G| của chu kỳ phân chia tế bào. Sự chết tế bào theo chương trình xảy ra khi tế bào được xử lý với cao lồng đèn ờ nồng độ 50 ug/ml, mà đặc trưng là sự xuất hiện phosphatidylserin ở mặt ngoài của màng tương. Như vậy, cao lồng đèn có tác dụng chống u gan mạnh và tác dụng của cao trên sự chết tế bào theo chương trình là do rối loạn chức năng của ty thể (Wu et al„ 2004 a).

Đã nghiên cứu cơ chế phân tử của cao lồng đèn gây chết tế bào theo chương trình trong tế bào u gan dòng Hep G2. Những nghiên cứu đã xác định được, cao lồng đèn ức chế sự tăng sinh tế bào, mức độ ức chế phụ thuộc vào nồng độ của cao và thời gian ủ. Ở nồng độ 50 ug/ml, cao lồng đèn làm tăng có ý nghĩa sự tích lũy tế bào ở pha G|. Cao lồng đèn khơi mào sự chết tế bào theo chương trinh thông qua việc giải phóng cytoclirom c, Smac/DIABLỒ và Omi/HTrA2 từ ty thể vào trong bào tương gây ra hoạt hoá caspase 3; vì khi xử lý từ trước với một chất ức chế caspase 3 (chất z - VAD - fmk), thì sự giải phóng caspase 3 bị ngăn cản. 48 giờ sau khi xử lý với cao lồng đèn, sự chết theo chương trình của tế bào Hep G2 xảy ra với sự tăng của các protein p53, CD95 và CD95L. Ngoài ra. các protein Bel - 2 Bel - XL và X1AP giảm, còn các protein Bax và Bad tăng. Những kết quả thu được cho thấy, sự chết theo chương trình của tế bào ung thư gan của người dòng Hep G2 do cao lồng đèn có thể trung gian qua hệ CD95/CD95L và qua con đường truyền tín hiệu ở ty thể (Wu et al„ 2004b).

2. Tác dụng chống oxy hóa và dọn gốc tự do

Cao toàn cây lồng đèn chiết bằng nước nóng và chiết bằng ethanol với các nồng độ khác nhau 20, 40, 60, 80 và 95% đã được nghiên cứu tác dụng chống oxy hoá và khả năng dọn gốc tự do trên dịch đồng thể gan chuột cống trắng, dùng nhiều phương pháp thực nghiệm khác nhau. Kết quả cho thấy, ở nồng dộ 100 ug/ml, cao ethanol 95% có tác dụng chống oxy hoá mạnh nhất trên hệ FeCVacid ascorbic với tỷ lệ ức chế sự peroxy hoá lipid lên đến 82,3%; ở nồng độ từ 10 - 100 ug/ml, cao cthanol 95% cũng có tác dụng ức chế sự peroxy hoá lipid mạnh nhất trên hệ xanthin/xanthin oxydase và khả năng dọn anion Superoxyd mạnh nhất so với cao lồng đèn chiêt bằng ethanol ở các nồng độ khác và cao chiết nước. So với alpha - tocopherol, cao ethanol 95% của lồng đèn có trị số của nồng độ ức chế trung bình (IC50) thấp hơn (tức là có tác dụng mạnh hơn). Dùng phương pháp thử nghiệm với acid thiobarbituric để định lượng sản phẩm của sự peroxy hoá lipid là malonyldialdehyd (MDA). iCso= 23,74 ng/ml so với 26,71 ng/ml; trong thử nghiệm cytochrom c, ICso = 10,40 ng/ml so với 13 39 ng/ml, và trong thử nghiệm với hệ xanthin/ xanthion oxydase, IC50 = 8,97 ng/ml so với 20 68 (Ig/ml (theo thứ tự của cao ethanol 95% so với alpha - tocopherol). Như vậy, cao ethanol của lồng đèn (toàn cây) có tác dụng chống oxy hoá tốt và cao chiết bằng ethanol 95% có tác dụng mạnh nhất(Wu et ai., 2005).

Trong một nghiên cứu khác, cao toàn cây lồng đèn được chiết bằng phương pháp dùng CO2 siêu tới hạn đề được cao Es có hàm lượng flavonoid tổng số là 234,63 ± 9,6] mg/g và hàm lượng phenol là 90,80 ±2,21, cao hơn nhiều so với cao nước (En) và cao ethanol (Ee). Kết quả cho thấy, ở các nồng độ từ 0,1 - 30 ug/ml, Es có tác dụng ức chế sự peroxy hoá lipid trong thực nghiệm dùng hệ xanthin/xanthin oxydase và tác dụng dọn gốc anion superoxyd mạnh hơn cao En và Ee (Wu et al„ 2006). Withaperuvin E được phân lập từ cây lồng đèn cũng có tác dụng dọn gốc tự do khá mạnh (Tripathi el al„ 1995).

3. Tác dụng chống viêm

Tác dụng chống viêm của cao toàn cây lồng đèn được chiết bằng phương pháp dùng COị siêu tới hạn (Es) cũng đã được nghiên cứu. Ở nồng độ 30 ug/ml, Es ngăn ngừa có ý nghĩa độc tính trên các đại thực bào chuột nhắt trắng (Raw 264.7) do lipopolysaccharid (LPS, 1 fig/ml); ở nồng độ 10-50 ug/ml, Es ức chế có ý nghĩa sự giải phóng nitric oxyd (NO) do LPS và sự tạo thành prostaglandin E2 (PGE2) một cách phụ thuộc liều; ở nồng độ 30 ng/ml, Es phong bế mạnh sự cảm ứng enzym tổng hợp NO (nitric oxyd synthase) do LPS (LPS gây cảm ứng, làm tăng hoạt tính của enzym này) và phong bế enzym cyclo oxygenase - 2 (COX - 2). Như vậy, cao toàn cây lông đèn được chiết bằng phương pháp CO2 siêu tới hạn (Es) có tác dụng chống viêm mạnh hơn so với cao nước và cao ethanol. Tác dụng bảo vệ chống lại viêm gây ra do lipopolysaccharid là do ức chế enzym tổng hợp nitric oxyđ và cox - 2 (Wu et al„ 2006).

4. Tác dụng diệt ấu trùng

Các ester glycosid được phân lập từ cây lồng đèn trộn vào thức ăn nhân tạo với tỷ lệ 35 mg/kg rồi cho chuột cống trắng (đã bị nhiễm ấu trùng Heliocoverpa zea) ăn, làm giảm sự phát triển ấu trùng 50% [J. Nat. Prod., 1993, 56: 1356; Rastogi, 1998, V: 634], Chất perulacton - 3- O- P- D- giucosid (cũng được phân lập từ cây lồng đèn) được trộn vào thức ăn với tỷ lệ 150 mg/kg cũng làm giảm sự phát triển của ấu trùng 50% [Nat. Prod, Letter, 1993, 2: 115; Rastogũ 1998, V: 634],

5. Tác dụng lợi tiểu

Thí nghiệm được tiến hành ở chuột cống trắng đực 100 - 150g. Chuột được cho nhịn đói qua đêm. Sáng hôm sau cho chuột uống dung dịch NaCl 0,9% với thể tích 5 ml/100g. Nước tiều thu thập trong 4 giờ của từng chuột. Kết quả cho thấy, lô dùng cao lồng đèn, lượng nước tiểu nhiều hơn lô dùng thuốc tham chiếu là urea với liều 750 mg/kg [Bhakuni, 1969: 250 - 262], Cao khô lồng đèn được chế tạo bằng cách dùng toàn cây, phơi khô, nghiền thành bột thô, chiết bằng ethanol 50%, rồi cô dưới áp lực giảm đến thể chất cao khô.

6. Độc tính cấp

Cao khô lồng đèn được chế tạo như ở mục nghiên cứu tác dụng lợi tiểu, tiêm phúc mạc cho chuột nhắt trắng để xác định độc tính cấp. Kết quả đã xác định được liều chết trung bình LD50 = 125 mg/kg. Như vậy, lồng đèn là một vị thuốc có độc tính khá cao [Bhakuni, 1969: 250 - 262].

Tính vị, công năng

Cây lồng đèn vị đắng, tính hàn; có công năng thanh nhiệt, giải độc, tiêu đờm, lợi tiểu, tiêu thũng. Quả có vị chua, tính bình, có công năng thanh nhiệt lợi tiểu. Rễ làm co rút tử cung.

Ở Trung Quốc, sách "Lục Xuyên bản thảo" ghi: lồng đèn vị ngọt, nhạt, hơi hàn; sách "Nam Ninh thị dược vật chí" ghi: đắng, hơi ngọt, tính hàn; sách "Toàn quốc trung thảo dược hội biên" ghi: đắng, tính mát; có công năng thanh nhiệt, hành khí, chỉ thống, tiêu thũng [TDTH, 1993, I: 2293]. Lại có tài liệu ghi: lồng đèn vị chua, đắng, tính hàn, có công năng thanh nhiệt, nhuận hầu (họng), tiêu đờm, lợi niệu [Chang, 1992:267].

Công dụng

Toàn cây lồng đèn được dùng chữa sốt, ho. sưng họng, phiền nhiệt, nôn, nấc. Ngày dùng 20 - 40g toàn cây khô, sắc uống. Dùng ngoài, lấy lá non và ngọn tươi 40 - 80g, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt uống, bã đắp, xoa ngoài; cũng có thể dùng toàn cây nấu lấy nước để tắm rửa khi bị mụn nhọt, lở loét ngoài da.

Quả lồng đèn cho phụ nữ đẻ khó ăn để dễ đẻ; trẻ em nóng âm, người gầy khô, ăn để da thịt mát, tăng cân. Để chữa sưng ngón chân, ngón tay, lấy quả lồng đèn tươi vừa đủ, giã nát, đắp vào chỗ đau rồi băng lại.

Ở đảo La Reunion, nhân dân dùng cây lồng đèn để lợi tiểu; ở Nam Phi, người Zulus dùng nước sắc, nước hãm thụt hậu môn cho trẻ em để chữa rối loạn tiêu hoá, đau bụng; ở Ấn Độ, dịch lá được dùng tẩy giun và chữa rối loạn tiêu hoá [Kirtikar et al., 1998. III: 1769; Chopra et al 2001: 191],

Ở Trung Ọuốc, toàn cây được dùng trị mụn nhọt, lỵ amíp, bạch hầu, quai bị, biêm tinh hoàn- quả được dùng trị ho, nóng, nuốt đau. Ngày 9 - 30g sắc uống; dùng ngoài, giă đắp (dùng tươi) hoặc sắc nước rửa. Gần đây, lồng đèn thường được dùng trị ung thư, sốt rét, hen, viêm gan viêm da, thấp khớp (Wu et al., 2005). Để chữa ung thư, mỗi ngày dùng 15g quả lồng đèn, sắc với 200ml nước, chia làm 3 lần. uống trong ngày; uống nhiều ngày [Chang, 1992: 267].

Bài thuốc có lồng đèn

1. Chữa bệnh quai bị

Toàn cây lồng đèn tươi lOOg: đại thanh (bọ mẩy: Cỉerodendrum cyrtophyllum Turez) 30g, sắc, chắt lấy nước, thêm đường phèn vào vừa đủ để đỡ đắng, đun sôi, chia làm 3 lần uống trong ngày.

2. Chữa bệnh ung thư (các loại, chưa tổng kết được loại nào tốt hơn)

Rễ lồng đèn tươi 90g, rửa sạch, thái thành lát mỏng, rồi sắc với nước. Khi nước đang sôi cho vào 1 - 2 quả trứng đã bóc vỏ ngoài. Sau đó, thêm một ít đường nâu sắc kỹ. Bệnh nhân ăn trứng và uống nước sắc, ngày 1 lần [Chang, 1992: 267].

 

Lồng Đèn 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC