Vị thuốc vần L

Long Nha Thảo

10:23 20/05/2017

Agrimonia eupatorio L.

Tên khác: Cỏ răng rồng, tiên hạc thảo.

Tên nước ngoài: Agrimony (Anh) ; herbe de Saint - Guillaume, aigrémoine (Pháp).

Họ: Hoa hồng (Rosaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống lâu năm, cao 40 - 50 cm, có khi hơn. Thân mọc đứng, màu đỏ nhạt, có vạch dọc và lông trắng. Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, hình bầu dục hay mũi mác, lá chét mọc đối từng cặp to, nhỏ xen kẽ nhau, gốc tròn, đầu nhọn, mép khía răng to, đều, hai mặt màu lục xám, có lông mịn, dày hơn ở mặt dưới; lá kèm khá phát triển, có răng cưa.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành thành chùm dài 10 - 30 cm, lá bắc chẻ ba; hoa màu vàng; đài hình ống, 5 răng hẹp nhọn; tràng 5 cánh rời; nhị 10.

Quả hình bầu dục hoặc hình nón, có rãnh sâu và nhiều gai móc.

Mùa hoa quả : tháng 8 -10.

Long nha thảo và tác dụng chữa bệnh của nó

Phân bố, sinh thái

Agrimonia L. là một chi nhỏ, có khoảng 10 loài, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ấm. Loài long nha thảo có nguồn gốc ở vùng Himalaya, bao gồm cả Trung Quốc và Ân Độ. Ở Việt Nam có 2 loài, trong đó long nha thảo thường gặp ở vùng núi phía bắc với độ cao từ 800 m trở lên. Cây có nhiều ở Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang và một số vùng núi Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Yên Bái, Hòa Bình, Thanh Hóa, sống ở bãi hoang, nơi đất ẩm, gần suối.

Long nha thảo thuộc loại cây ưa ẩm và ưa sáng. Cây con mọc từ hạt thường thấy từ cuối mùa xuân, sinh trưởng mạnh trong mùa hè - thu. Sau mùa hoa quả, cây tàn lụi vào mùa đông.

Bộ phận

Phần trên mặt đất, thu hái lúc lá sum sê, loại bỏ tạp chất, rồi phơi hoặc sấy khô.

Thành phần hóa học

Ngọn có hoa của long nha thảo chứa tanin 7,4%, ílavonoid toàn phần 0,90%, rutin 0,17%, hyperosid 0,37%, isoquercitrin 0,21%, quercitrin 0,05% (Carnat A và cs, 1991). Ngoài ra còn các chất phloroglucinol, agrimol A, B, c, D, E, F, G và agrimophol, 3 dẫn chất catechin.

Tác dụng dược lý

1. Tác dụng kháng khuẩn: Cao toàn phần long nha thảo có tác dụng kháng khuẩn. Từ cao, đã chiết được 4 chất thuộc dẫn chất của phloroglucinol có tác dụng kháng khuẩn. Từ rễ long nha thảo, đã chiết dược 3 dẫn chất catechin mới có tác dụng ức chế trên Staphylococcus aureus. Các agrimol c, F, G và agrimophol trong long nha thảo cũng có tác dụng kháng khuẩn in vitro.

2. Tác dụng trên ký sinh trùng sốt rét: Các agrimol A, B, c, D, E chiết từ long nha thảo có tác dụng bảo vệ chuột nhắt trắng khi cho gây nhiễm ký sinh trùng sốt rét.

3. Tác dụng trên cơ: Đối với cơ xương, long nha thảo có tác dụng gây hưng phấn, nhưng lại ức chế, làm tê liệt các khâp thần kinh cơ.

4. Tác dụng trên động vật thân mềm: Đã nghiên cứu thử tác dụng in vitro của long nha thảo trên giun lợn và đỉa, thấy thuốc có tác dụng làm liệt cơ.

5. Tác dụng trên sán: Ở Trung Quốc, long nha thảo được dùng để chữa sán, người ta uống lúc đói 50g chồi mầm thu hái vào mùa đông phơi khô tán bột. Khoảng 5-6 giờ sau khi dùng thuốc, cả đốt sán và đầu sán đều bị tống ra. Thử nghiệm ở bệnh viện thấy hiệu quả đạt 98,5%. Đã xác định hoạt chất có tác dụng trên sán là agrimophol, tác dụng mạnh, ít tác dụng phụ và đã được lưu hành trên thị trường.

6. Tác dụng trên đường huyết: Thử trên chuột nhắt trắng, gây tăng đưòng huyết bằng streptozocin, lá long nha thảo làm chậm tốc độ phát triển và làm giảm mức độ tăng đưòng huyết.

7. Tác dụng trên tử cung: Thí nghiêm trên tử cung cô lập, liều nhỏ long nha thảo hơi có tác dụng hưng phấn, nhưng liều cao lại ức chế. Trên thỏ có thai, dịch chiết từ 3g long nha thảo tiêm tĩnh mạch gây co bóp mạnh sừng tử cung.

8. Tác dụng chống u: Cao chiết methanol từ rễ long nha thảo kéo dài được thời gian sống của chuột nhắt trắng gây u bằng tế bào sarcom SI 80 hoặc sarcom xơ (fibrosarcoma). Thuốc được tiêm trong màng bụng trước hoặc sau khi gây u đều có tác dụng. Chưa rõ thuốc có tác dụng trực tiếp trên tế bào u hoặc thông qua vai trò của vật chủ.

9. Tác dụng trên tim: Thí nghiệm trên tim ếch cô lập, liều nhỏ, long nha thảo làm tăng tần số tim và giảm biên độ co bóp, nhưng liều lớn lại làm liệt tim.

10. Tác dụng trên huyết áp: Thử trên thỏ và chó, long nha thảo làm tăng huyết áp, có lẽ do tác dụng gây co mạch.

11. Tác dụng trên máu: Long nha thảo làm tăng tốc độ đông máu, tức là làm giảm thời gian đông máu.

12. Tác dụng trên hô hấp: Long nha thảo với liều vừa phải có tác dụng kích thích hô hấp. Liều cao, lúc đầu, gây tăng hô hấp, sau đó, gây suy hô hấp.

13. Tác dụng trên đồng tử: Long nha thảo làm giãn đồng tử của ếch.

Tính vị, công năng

Long nha thảo có vị đắng, chát, tính ấm, vào các kinh tâm, phế, can, thận, có tác dụng thu liễm, chỉ huyết, chỉ lỵ, giải độc.

Công dụng

Long nha thảo chữa khái huyết, thổ huyết, chảy máu cam, băng huyết, đại tiện ra máu, lỵ, sốt rét, tràng nhạc, ung thũng. Còn được dùng chữa bệnh gan mật, viêm miệng aptơ, lao lực. Ngày 8 - 16g có thể đến 40g, sắc uống.

Ở Trung Quốc, ngưòi ta chế long nha thảo tố bằng cách loại bỏ tanin, saponin, đường, protein, rồi tinh chế sẽ được một chất bột vô định hình có phản ứng acid, có tài liệu ghi là agremonin, dùng làm thuốc cầm máu chữa băng huyết, kinh nguyệt không đều. Long nha thảo tố có thể làm ống tiêm 5 ml có 0,01 g, làm thuốc viên hoặc pha dung dịch để uống gọi là ái mẫu ninh. Loại thuốc viên có thể phối hợp với đương quy.

Bài thuốc có long nha thảo

1. Chữa ho ra máu, thổ huyết, chảy máu cam, băng huyết, đại tiện ra máu:

Long nha thảo 30g, đại táo 20g, địa long (giun đất, nạo sạch ruột, tẩm rượu) sấy khô 20g, sắc uống ngày một thang. Trong trường hợp ho ra máu, nôn ra máu, có thể dùng long nha thảo phối hợp với rễ cốt toái bổ, hạt rau đay, mỗi vị 9g, sắc uống.

2. Chữa nổi hạch, tràng nhạc, mụn nhọt:

Long nha thảo 20g; nga truật, ngưu tất, xạ can, huyền sâm, mỗi vị 12g, sắc uống.

 

Long Nha Thảo 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC