Vị thuốc vần L

Lúa Mạch

03:35 11/07/2017

Hordeum vulgare L.

Tên đồng nghĩa: Hordeum sativum Pers.

Tên khác: Mạch nha, đại mạch.

Tên nước ngoài: Barley (Anh), orge (Pháp).

Họ: Lúa (Poaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống nhiều năm, cao 0,6 - 1m. Rễ hình sợi. Thân mảnh, mọc thẳng. Lá hình dải, dài 10-30 cm, rộng 0,6  - 1,2 cm, phiến nháp, lưỡi bẹ ngắn, cụt đầu.

Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành bông dài 6-10 cm, lúc non thẳng đứng, khi chín thì rũ xuống. Các bông nhỏ xếp dày đặc trên trục chính thành 4 dãy, không cuống, bông nhỏ có hai hoa, 1 bị lép thành cuống nháp hay có lông, hoa lưỡng tính, cuống hoa có đốt ở dưới mày hoa: mày hình dải có ba gân, nhị 3; bầu có vòi nhụy rất ngắn.

Quả hình trái xoan, có khía dọc dài 0,8 - 0,9 cm, ở đầu có phần phụ nhiều lông.

Phân bố, sinh thái

Hiện chưa biết chính xác về nguồn gốc, nhưng chắc chắn đây là loại cây trồng đã có lịch sử hàng ngàn năm. Cây được trồng ở tất cả các quốc gia ở vùng ôn đới ấm, vùng cận nhiệt đới và có những giống (Cultivars) trồng được ở vùng núi nhiệt đới. Ở Việt Nam. lúa mạch được ngành nông nghiệp nhập giống từ những năm 60. Cây được trồng thử nghiệm ở nông trường Ba Vì, cao nguyên Mộc Châu và một số nơi khác ở miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, gần đây không thấy tài liệu nào đề cập về nơi trồng lúa mạch ở nước ta.

Lúa mạch là cây ưa ẩm, ưa sáng và ưa khí hậu mát. Cây trồng ở các quốc gia ôn đới cũng như ở Việt Nam đều bất đầu vào đầu mùa xuân. Tuỳ theo loại giống và vùng trồng mà thời gian cho thu hoạch từ bốn tháng rưỡi đến sáu tháng, sau khi quả (hạt) chín, toàn cây tàn lụi.

Cách trồng

Lúa mạch nhân giống bàng hạt. cách gieo trồng như cây lúa nương. Thời vụ gieo hạt vào vụ xuân.

Đất trồng lúa mạch cần được cầy bừa kỹ, vơ sạch cỏ sau đó rạch hàng, hay bổ hốc với khoảng cách chừng 25 X 30 cm hay 30 X 30 cm. Phân bón: Chủ yếu là bón lót, có thể dùng phần chuồng mục trộn với một ít phân lân.

Chăm sóc chủ yếu là làm cỏ, xới đất. khi có mưa xuân đất ẩm có thể kết hợp bón thúc bằng đạm urea, khi bón chú ý bón xa gốc. Quá trình cây sinh trưởng phát triển nếu có sâu bệnh phải phun thuốc kịp thời.

Bộ phận dùng

Hạt và quả mạch nha nẩy mầm.

Thành phần hoá học

Hạt chứa protein 11,5%, chất vô cơ 1,5%, chất xơ 3,9%, carbohydrat 69,3%, Ca 0,03%, p 0,23%, Fe 3,7mg%, tinh bột 60 - 68%, pentosan 8 - 12%, cellulose 4,5%, lignin 4%, sucrose 1,5 - 2,5%, đường chuyển hoá 0,1 - 0,5%, pectin 0,5 - 1,0%. Tinh bột mạch nha gồm amylose (19%), và amylopectin. Đường tự do gồm sucrose và raffinose với một lượng nhỏ glucose, fructose, maltose glucodifructose và fructosan. Sucrose tập trung ở mầm. Các pentosan là urono - xylan, uronoaraban và có thể galacto - xylan.

Mạch nha chứa 4 nhóm protein, như albumin, globulin, prolamin (hordein) và glutelin (hordenin). Hàm lượng protein là 10,75%, gồm albumin 0,3%, globulin (gồm cả proteose) 1,95%, hordein 4,0% và hordenin 4 - 5%.

Trị số protein toàn phần là 64. Các acid amin chủ yếu (tính theo 16gN) là arginin 4,5, histidin 1.8, lysin 2,4, tryptophan 1,1, leucin 5,5, isoleucin 3.8, valin 5,1, phenylalanin 5,7, threonin 3,6 và methionin.

Dầu béo trong hoá mạch có DỊ,5 0,9547, chỉ số xà phòng hoá 188,4, chỉ số iod 113,5, chỉ số ester 159.4, chỉ sổ acid 29,0 và chất không xà phòng hoá 5,4%.

Các acid béo là acid stearic 2,6, acid palmitic 7.4, acid oleic 26,5, acid linoleic và acid linolenic 0,44%. Lúa mạch chứa 0,16% phosphatid (chù yếu là lecithin), các acid béo đặc (chủ yếu là acid palmitic) chiếm 14,8% so với các acid béo toàn phần và các acid béo lỏng (chủ yếu là acid linoleic) là 84,6%.

Các chất vô cơ là K2O2 0,6 - 0,9, Na2O3 0,1 - 0,3%, CaO 0,07 - 0,15, MgO 0,2, P2O2 0, 8 - 1,2, s 0,02 và SiO2 0,5 - 0,9%. Các nguyên tố 0,7, Fe 4 - 9, Mn 12, Cu 0,2 - 0,6 và Zn 2 - 3mg%. Hàm lượng iod trong lúa mạch Ấn Độ tươi là 18 ug/kg. Lúa mạch tươi chứa vitamin A (71 đơn vị quốc tế/lOOg), thiamin 500 - 650ug/100g) và riboflavin (90- 140ug/1 OOg).

Các vitamin khác là niacin (7mg/100g). cholin (96 - 125mg/100g), acid pantothenic (395 - 620ug/100g), acid folic, vitamin D và vitamin E (1,7 - 2,lmg/100g). Hoạt lực vitamin E thấp hơn tocopherol toàn phần do sự có mặt của hợp chất [3 ít hoạt tính lại nhiều (tocopherol toàn phần 5,6 - 7,lmg/100g, a - tocopherol 10%, p - tocopherol 67%).

Lúa mạch còn chứa phytin 1,2% tập trung chủ yếu ở vỏ, hàm lượng các aicd nuleic và acid phosphoric và porphyrin thấp. Vỏ hạt chứa tanin, iod.

Lúa mạch chứa nhiều enzym: oxidase, catalase, peroxidase, phytase, lichenase, cytase, marinase, cellobiase và manobiase. Các enzym thuỷ phân protein xuất hiện sau khi nảy mầm.

Các vị thuốc thường dùng

Từ cây lúa mạch có nhiều vị thuốc được sử dụng:

a) Hạt lúa mạch (đúng ra là quả lúa mạch) và các hoạt chất hoặc phân đoạn chiết từ hạt lúa mạch; 

b) Thân lá cây lúa mạch

c) Mạch nha: Là hạt lúa mạch đă mọc mầm. muốn cỏ mạch nha. lấy hạt lúa mạch, dùng nước đãi sạch đất cát, ngâm nước cho ẩm các hạt, sau đó ủ kín, thinh thoảng tưới nước để giữ ẩm cho đều Sau vài ba ngày, hạt lúa mạch nảy mầm, khi nào một số mầm bắt đầu xanh (mầm dài trung bình khoảng 3 mm) thì lấy ra. phơi nắng hoặc sấy ở nhiệt độ dưới 60°c cho khô’, để nguyên hoặc tán nhỏ, sảy hết trấu là được;

d) Cao mạch nha: Tán mạch nha (đã loại bỏ vỏ trấu) thành bột, nấu với nước ở nhiệt độ 60°c để enzym trong mạch nha thuỷ phân toàn bộ tinh bột còn lại trong mạch nha thành các đường có phân tử lượng thấp (nếu để ở nhiệt độ cao hơn, hoạt tính thuỷ phân của enzym kém hơn, và nếu đểở nhiệt độ quá cao, enzym sẽ bị phân hủy). Cuối cùng cô đặc ở nhiệt độ không quá 60°C;

đ) Cao mạch nha dầu cá (extractum malticum oleo jecoris piscis): Công thức gồm cao mạch nha 900g, dầu cá lOOg. Đun cao mạch nha ờ nhiệt độ 60°c cho chảy ra, thêm dầu cá vào, vừa thêm vừa khuấy cho hồn hợp trộn đều, để nguội, cao sẽ đặc lại;

e) Cao mạch nha dầu gấc: Cách chế cũng được tiến hành như cao mạch nha dầu cá, nhưng thay dầu cá bằng dầu gấc;

g) Kẹo mạch nha (còn gọi là kẹo mạ, di đường): Là chất cao mềm do tác dụng của enzym trong mạch nha lên cơm nếp nát hoặc cháo nha đặc từ tinh bột như tinh bột sắn (tỷ lệ mạch nha là 20% so với lượng gạo nếp hoặc tinh bột). Ở nhiệt độ 60 - 70°c trong thời gian 6-12 giờ để chuyển boá tinh bột thành đường, sau đó cô đặc cho đến khi thủy phần còn khoảng 8%.

Ở Trung Quốc, ngoài hạt lúa mạch (Trung Quốc gọi là đại mạch) và mạch nha, còn dùng một số vị thuốc khác từ cây lúa mạch:

a) Mầm lúa mạch: Cách chế biến như mạch nha, nhưng ủ để cho hầu hết các mầm đều xanh (dài khoảng 3-5 mm). Thu lấy mầm, phơi khô là được;

b) Rơm lúa mạch; Là thân và cành cây lúa mạch đã thu hoạch quả, phơi khô có màu vàng;

c) Bã rượu lúa mạch: Lấy gạo lúa mạch, nấu chín, ủ với men rượu, sau đó cất lấy rượu, phần còn lại là bã rượu lúa mạch [TDTH 1993,1: 283 - 4; 1996,11:9].

Tác dụng dược lý

1. Tác dụng trên hệ tiêu hoá

Trong hạt lúa mạch có một số enzvm như amylase, invertase và proteinase giúp cho sự tiêu hoá carbohydrat và protein [Kee, 1999: 225].

Để nghiên cứu tác dụng của chế độ ăn giàu lúa mạch trên hệ tiêu hoá, đã tiến hành thử trên chuột cống trắng đực, còn non, ăn một chế độ ăn có 7 - 12% betaglucan, 7 - 24% tinh bột trơ, 5% bột cellulose VI tinh thể, số còn lại ở lô đối chứng (lô 1) là tinh bột không phải là lúa mạch và ở lô thử (lô 2) là tinh bột nhưng có 50% thực phẩm bột lúa mạch giàu sợi. Cho chuột ăn trong 6 tuần liền. Kết quả cho thấy, ở hai tuần lễ cuối, sự tiêu thụ thức ăn ở lô 2 tăng có ý nghĩa (P < 0,05). Vào cuối tuần thứ 6, mức tăng khối lượng cơ thể của lô 2 tăng nhiều hơn lô 1 (P < 0,05); khối lượng manh tràng lớn hơn (P < 0,05), khối lượng ruột kết lớn hom (P < 0,001); số lượng phân trong manh tràng và trong ruột kết cũng lớn hơn so với lô 1; hàm lượng bột trơ trong manh tràng và trong ruột kết lớn hom, hàm lượng beta glucan trong ruột non, manh tràng và ruột kết ở lô 2 đều lớn hơn so với lô 1; số lượng coli và trực khuẩn kỵ khí thấp hơn, nhưng số vi khuẩn Lactobacillus lại lớn hơn so với lô 1 (P < 0,05), acid béo mạch ngắn (short - chain fatty acid) trong manh tràng ở lô 2 là 800 umol/g cao hơn ở lô 1 (200 umol/g khối lượng khô), acid béo này trong ruột kết và trong phân ở lô 2 cũng cao hơn; hàm lượng aciđ mật tiết ra trong khi ăn tăng 30% so với lồ 1. Như vậy, chế độ ăn có chứa thực phẩm bột lúa mạch giàu sợi (dietary fiber - rich barley product) là có lợi cho hoạt động sinh lý của hệ tiêu hoá (Dongovvski et al., 2002].

Trong hạt lúa mạch có gluten là một peptid không chịu sự thuỷ phân của các enzym thủy phân protid thông thường, nên tồn tại trong lòng ruột và gây ra đáp ứng miễn dịch và viêm, sinh đau bụng ở người nhạy cảm. Chứng trạng này gọi là bệnh Sprue. Tuy nhiên, cũng trong lúa mạch lại có tiền enzym (proenzym), khi vào dạ dày sẽ chuyển thành endoprotease EP - B2, có khả năng thuỷ phân gluten. Do vậy, khi ta ăn lúa mạch, việc tiêu hoá vẫn diễn ra bình tlurờng. Để chứng minh hiện tượng trên, đã tiến hành thí nghiệm trên 2 lô chuột cống trắng trưởng thành. Lô 1 cho chuột ăn thức ăn có lg gluten. Lô 2 cho ăn như lô 1, nhưng thêm endoprotease .EP - B2. Theo dõi sự thuỷ phân gluten ở dạ dày và ruột chuột bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) và phổ khối (MS). Kết quả cho thấy hàm lượng gluten ở lô l rất cao so với lô 2. Với tỷ lệ EP - B2/gluten cho chuột ăn là 1:25, hàm lượng peptid gliadin (được chuyển hoá từ gluten) là một chất gây miễn dịch và viêm trong dạ dày và ruột non chuột ở lô 2 thấp hơn lô 1 khoảng 50 lần trong vòng 90 phút và không có biểu hiện độc (Gass et al., 2006).

Mạch nha là hạt lúa mạch cho mọc mầm đến khi một số hạt có lá mầm xanh rồi sấy khô ở nhiệt độ dưới 60°c. Trong mạch nha có enzym amylase, maitase có tác dụng thuỷ phân tinh bột thành các đường có phân tử lượng nhỏ hơn như maltose, saccharose dễ tiêu hóa hơn.

Nghiên cứu điều trị bệnh nhân bị viêm loét đại tràng bằng mạch nha đã được tiến hành trên 18 bệnh nhân bị viêm loét mức độ từ nhẹ đến vừa theo phương pháp mở, có kiểm tra, ngẫu nhiên ở nhiều trung tâm. Bệnh nhân được chia thành 2 lô- lô 1 đối chứng có 7 bệnh nhân được điều trị cơ bản bằng các thuốc chống viêm trong 4 tuần lô 2 thử thuốc có 11 bệnh nhân được điều trị như lô 1 và mỗi ngày thêm 20 - 30g mạch nha trong 4 tuần Đánh giá bằng khám lâm sàng, nội soi đại tràng và xét nghiệm vi khuẩn ở phân. Kết quả cho thấy ở lô 2, các chỉ số khám lâm sàng và nội soi viêm loét đại tràng đều giảm nhiều hơn có ý nghĩa so với lô 1, và không thấy có tác dụng phụ có hại do mạch nha gây nên. Xét nghiệm phân thấy, ở lô 2 số lượng các vi khuẩn có ích như Bifidobacterium và Eubacterium limosum tăng hơn lô 1 rõ rệt (Kanauchi et al., 2002).

Để nghiên cứu cơ chế việc điều trị viêm loét dạ dày của mạch nha, một thực phẩm có protein giàu glutamin và có sợi giàu hemicellulose, đã đánh giá tác dụng chống viêm trên viêm đại tràng do natri Sulfat dextran ở chuột nhắt trắng. Các thông số đánh giá gồm thể trọng; biểu hiện của bệnh; tổn thương niêm mạc gồm xét nghiệm mô học, các thông số viêm niêm mạc; sự hoạt hoá yếu tố nhân Kappa B (NFK.B: nuclear factor Kappa B), chất chuyển đổi tín hiệu và hoạt hoá phiên mã 3 (STAT3: signal transducer and activator of transcription 3); hàm lượng interleukin 6 (IL-6) trong huyết thanh; acid béo mạch ngấn ở manh tràng, hàm lượng acid mật ở đại tràng. Kết quả cho thấy, ở lô dùng mạch nha, sự giảm thể trọng và biểu hiện bệnh giảm có ý nghĩa so với lô đôi chứng; hàm lượng IL-6 trong huyết thanh và STAT 3 ở niêm mạc đại tràng giảm có ý nghĩa, kèm theo sự giảm rõ rệt tổn thương niêm mạc; hoạt tính NFKB cũng có khuynh hướng giảm; hàm lượng butyrat (acid béo mạch ngắn) trong manh tràng tăng có ý nghĩa; còn acid mật ở đại tràng ở lô dùng mạch nha lại thấp hơn ở lô đôi chứng. Như vậy, mạch nha có khả năng làm giảm đáp ứng viêm biểu mô do ức chế STAT 3 và NFKB. Các tác dụng này có thể là do tăng sản sinh butyrat và tăng hấp phụ acid mật (Kanauchi et al., 2003).

2. Tác dụng trên lipid huyết và chống oxy hoá

Để nghiên cứu cơ chế của thực phẩm bột lúa mạch giàu sợi (LMGS) làm giảm cholesterol huyết, đã xác định hàm lượng các steroid trong ruột chuột khi cho ăn LMGS. Thí nghiệm được tiến hành ở chuột cống trắng đực còn non, nặng khoảng 60 - 70g, chia làm 2 lô. Lô 1 ăn chế độ không có lúa mạch; lô 2 (lô thử) ăn chế độ ăn có 50% LMGS trong 6 tuần. LMGS này có chứa 7 - 24% bột trơ, 7 - 12% beta glucan. Kết quả cho thấy, hàm lượng các steroid chuyển về phía dưới của ruột ở lô 2 tăng có ý nghĩa so với lô 1 (các steroid này sẽ bị đẩy ra ngoài theo phân, chứng tỏ LMGS ức chế sự tái hấp thu steroid trở lại tuần hoàn). Các acid mật ở manh tràng được chuyển hoá thành acid muricholic, acid liyodeoxycholic và acid cholic. Đến kết tràng, các thành phần này lại tiếp tục bị chuyển hoá. Trong ruột, thành phần sợi (chủ yếu là beta glucan) có ảnh hưởng đến sự chuyển hoá nhờ vi sinh vật của cholesterol thành coprostanol, cholestanon và coprostanon. Nhờ các kết quả trên mà LMGS có tác dụng làm giảm cholesterol huyết (Dongovvski et al., 2003).

Để đánh giá tác dụng chống tăng cholesterol huyết trên lâm sàng của thành phần sợi tan (soluble fibre) trong lúa mạch, đã tiến hành thử trên 25 người bị tăng cholesterol ở mức độ vừa phải, gồm 9 phụ nữ mãn kinh, 9 phụ nữ tiền mãn kinh và 7 nam được chia làm 3 lô. Lô 1 đối chứng cho ăn chế độ ăn theo quy định của Hội Tim Hoa Kỳ (American Heart Association). Lô 2 cho ăn như lô 1, nhưng mỗi ngày thêm 3g beta glucan (BO), lô 3 mỗi ngày thêm 6g BG. Trong thí nghiệm này để đảm bảo chính xác hơn, đã không dùng thực phẩm bột lúa mạch giàu sợi, mà dùng beta glucan là thành phần chính trong phân đoạn sợi tan của hạt lúa mạch. Mỗi bệnh nhân đều để 2 tuần cho thích ứng, sau đó, cho các chế độ ăn như trên trong 5 tuần liền. Kết quả cho thấy, cholesterol tổng số giảm có ý nghĩa ở lô 2 và lô 3 so với lô 1 ; trong đó nam giới và phụ nữ mãn kinh giảm nhiều hơn so với phụ nữ tiền mãn kinh. Hàm lượng triacylglycerol không khác nhiều ở cả 3 lô. về hàm lượng các lipoprotein, HDL tăng, còn LDL và VLDL giảm, trong đó ở các phụ nữ mãn kinh thay đổi nhiều hơn so với phụ nữ tiền mãn kinh và nam giới (Behall et al., 2004).

Để chứng minh tác dụng chống tăng cholesterol huyết của một loại lúa mạch biển dị trồng ở núi Himalaya (Hordeum vulgare var Himalaya 292) có tỷ lệ tinh bột ít hơn, nhưng tỷ lệ amylose, bột trơ, và thành phần sợi, trong đó có beta glucan nhiều hơn, đã thử trên lợn con bằng cách cho ăn 21 ngày loại lúa mạch này (lô thử) so sánh với lô dùng cám lúa mì (lô đối chứng). Kết quả cho thấy, cholesterol tổng số trong huyết thanh của lô thử thấp hơn có ý nghĩa so với lô đối chứng. Ngoài ra, còn thấy hàm lượng acid béo mạch ngắn ở kết tràng của lô dùng lúa mạch trồng ở Himalaya cao hơn có ý nghĩa so với lô dùng cám lúa mì, chứng tỏ có sự giáng hoá của các acid béo mạch dài (Bird et al., 2004).

Tác dụng chống oxy hoá và hạ lipid huyết của tinh dầu lá cây lúa mạch (BLE: barley leaf essence) đã được nghiên cứu trên mô hình gây xơ vữa động mạch bằng cholesterol và dầu ngô ở thỏ. Thỏ gồm 24 con đưọc chia làm 4 lô. Lô 1 cho thỏ ăn thức ăn bình thường; lô 2 cho thỏ ăn thức ăn có thêm 0,5% cholesterol và 10% dầu ngô để gây tăng lipid huyết và xơ vữa động mạch; lô 3 cho ăn như lô 2 và thêm ] % BLE; lô 4 cho ăn như lô 2 và thêm 1% probucol (một thuốc đã biết làm giảm cholesterol và triglycerid) trong thời gian 45 ngày. Kết quả cho thấy, cholesterol tổng số, triacylglycerol, lucigenin - chemiluminescence và luminol - chemiluminescence trong huyết tương thỏ ở lô 2 tăng có ý nghĩa so với lô 1, nhưng các thông số trên ở lô 3 và lô 4 giảm có ý nghĩa so với lô 2. về khả năng chống oxy hoá, trị số T50 của sự tiêu hồng cầu và pha tiềm (lag phase) của sự oxy hoá LDL ở lô 3 và lô 4 tăng có ý nghĩa so với lô 2. 90% diện tích nội mạc mạch của động mạch chủ ngực được bao phủ lớp xơ vữa ở lô 2, nhưng ở lô 3 chi có 60%. Sự giảm tổn thương xơ vữa động mạch 30% này là do giảm lipid huyết và tăng khả năng chống oxy hoá (Yu et al., 2002).

3. Tác dụng gây dị ứng

Protein trong ngũ cốc cũng là nguồn có thể gây dị ứng. Tuy nhiên tỷ lệ người bị dị ứng rất ít, nên ít có tài liệu đề cập. Để xác định tác dụng gây dị ứng của ngũ cốc, đã lựa chọn được 64 bệnh nhân có biểu hiện dị ứng với ngũ cốc, gồm 40 trẻ em từ 3 đến 6 tháng có biểu hiện bị ỉa chảy, nôn, eczema hoặc giảm cân khi đưa thêm một loại ngũ cốc nào đó vào chế độ ăn của trẻ; những trẻ có biểu hiện bệnh khác ở bụng không đưa vào diện nghiên cứu. về người lớn, 18 người bị dị ứng với ngũ cốc được biểu hiện bằng dị ứng da và 8 người được biểu hiện bằng hen. Đánh giá phản ứng dị ứng của những người này bằng cách châm kim vào da, rồi đắp bột ngũ cốc lên, sau đó xem phản ứng trên da; và cho án ngũ cốc rồi định lượng IgE đặc hiệu trong huyết thanh. Kết quả cho thấy nhạy cảm nhất là trẻ em, những người đầu tiên trong đời tiếp xúc với ngũ cốc. Ngũ cốc gây dị ứng nhiều nhất là lúa mì, sau đó đến lúa mạch, yến mạch. Người lớn dị ứng với ngũ cốc thường dị ứng với nhiều tác nhân khác đặc biệt là phấn hoa của một loại cỏ, tên khoa học là Loỉium perenne (Armentia et al., 2002).

Đối với trẻ bị dị ứng với lúa mì hoặc lúa mạch phải dùng ngũ cốc nào để thay thế? Nghiên cứu sau đây sẽ trả lời cho câu hỏi này. Nghiên cứu được tiến hành ở 18 bệnh nhân đã được chẩn đoán là có phản ứng tăng nhạy cảm tip 1 với bột lúa mì. Làm phản ứng da với bột lúa mì, thấy 17/18 người dương tính (94,5%); với bột lúa mạch, 8/18 người có phản ứng dương tính (44,4%); với các bột ngũ cốc khác, tỷ lệ phản ứng dương tính thấp hơn. Xác định IgE đặc hiệu trong huyết thanh, đều có phản ứng dương tính rõ rệt khi cho dùng bột lúa mì và lúa mạch. Ngoài ra còn có một mối tương quan giữa bột lúa mì và lúa mạch. Người có hàm lượng IgE đặc hiệu cao với lúa mì cũng có hàm lượng IgE cao khi dùng lúa mạch. Đối với cám lúa mì, các phản ứng dị ứng cũng xảy ra tương tự như khi dùng bột lúa mì. Thử với bột gạo hoặc bột ngô, tỷ lệ bệnh nhân cỏ phản ứng dương tính trên da thấp hơn, đặc biệt là lgE đặc hiệu đều âm tính. Như vậy, khi bị dị ứng với một trong ba loại bột lúa mì, bột lúa mạch và cám lúa mì, thi không được dùng hai loại kia thay thế, mà phải dùng bột gạo hoặc bột ngô thay thế (Pourpak et ai., 2005).

4. Tác dụng giãn phế quản

Hordenin (0,5 - 1 mg/kg) và methylether hordenin (1 mg/kg) được phân lập từ lúa mạch có tác dụng giãn phế quản ở mèo đã bị co thắt phế quản do proserin, nhưng ít tác dụng trên phế quản của mèo bình thường [Chem Abst., 1978, 89: 157340w; Rastogi, 1999, II: 376].

5. Tác dụng kích thích mọc tóc

Đã sàng lọc hơn 1000 cao thực vật trên sự phát triển tế bào biểu mô của tóc, và phát hiện cao lúa mạch có tác dụng kích thích sự phát triển 140% so với lô đối chứng. Do đó đã tiến hành xác định hoạt chất nào trong lúa mạch có tác dụng này. Nhờ sắc ký trên cột nhựa HP - 20, cột nhựa LH - 20 và sắc ký lỏng hiệu năng cao dùng cột ODS, với rửa giải bằng methanol - nước. Sau đó nhờ các phương pháp phân tích phổ, đã xác định được hai chất là (+) - catechin và procyanidin B - 3. Tiến hành thí nghiệm với hai chất này, thây (+) - catechin không có tác dụng, còn procyanidin B - 3 cỏ tác dụng kích thích phát triển tế bào biểu mô tóc in vitro và gây ra giai đoạn đầu của chu trình tóc (anagen) in vivo. Nghiên cứu cơ chế mọc tóc của procyanidin B - 3 thông qua yếu tố tăng trưởng gây biến chuyển beta (TGF beta 1: transforming growth factor beta 1) là yếu tố điều hoà sự thoái triển cho thấy, thêm TGF beta 1 vào môi trường nuôi tế bào biểu mô tóc, làm giảm sự phát triển tế bào phụ thuộc liều, liều càng cao sự úc chế càng mạnh. Nhưng khi thêm procyanidin B - 3 vào môi trường nuôi sẽ làm mất tác dụng ức chế sự phát triển của TGF beta 1. Như vậy, procyanidin B - 3 cỏ tác dụng kích thích trực tiếp sự phát triển tế bào tiểu mô tóc in vitro-, làm mất tác dụng ức chế phát triển do TGF beta 1 in vitro và kích thích giai đoạn đầu của chu trình tóc in vivo (Kamimura et al., 2002).

6. Tác dụng bảo vệ phân tửADN

Để nghiên cứu tác dụng của beta glucan (BG) được chiết xuất từ lúa mạch chống lại tổn thương của phân tử ADN do hoá chất, đã tiến hành thí nghiệm trên ADN của các tế bào khiếm khuyết dòng CHO - KI và tế bào tiền khiếm khuyết dòng HTC. Gây tổn thương ADN của tế bào dòng CHO - KI bằng methylmethansulfonat (MMS) và gây tổn thương ADN của tế bào HTC bằng MMS hoặc 2 - aminoanthracen. Sự tổn thương ADN với biểu hiện là sợi ADN bị tháo mờ, đứt gãy được xác định dùng thử nghiệm sai lạc nhiễm sắc thể (chromosomal aberration assay). Kết quả cho thấy:

a) BG không gây thảo mở hoặc đứt gãy sợi ADN;

b) Các hoá chất trên gây thảo mở và làm đứt gãy sợi ADN, BG có tác dụng bảo vệ chống lại sự tổn thương của phân tử ADN ở các nồng độ 2,5; 5 và 10ng/ml;

c) BG cùng có tác dụng bảo vệ khi có mặt chất ức chế ADN polymerase beta (cytosin arabinosid - 3 - phosphat. Ara - C). Như vậy, cơ chế tác dụng bảo vệ của BG có thề có liên quan đến ADN polymerase beta, chứ không phải do tác dụng chống gây biến chủng (anti - mutagen) (Angelí et al., 2006).

Tính vị, công năng

Lúa mạch vị mặn, tính ấm, vào hai kinh tỳ và vị; có công năng khai vị, tiêu thực, hạ khí (đưa hơi đi xuống), tiêu bĩ hoá tích (tiêu các chất bị tích đọng). Mạch nha (lúa mạch cỏ mầm) vị mặn, tính bình, vào hai kinh tỳ và vị; có công năng khai vị, tiêu thực (giúp tiêu hoá thức ăn), làm giảm sữa.

Ở Trung Quốc, tính vị công năng của các vị thuốc từ cây lúa mạch có khác nhau:

a) Hạt lúa mạch (Trung Quốc gọi là đại mạch): về tính vị, sách "Biệt lục" ghi: đại mạch vị mặn, tính hơi hàn; sách "Trung dược đại từ điển" ghi: vị ngọt, mặn, tính mát. Đại mạch vào hai kinh tỳ và vị, có công năng hoà vị, khoan tràng, lợi thuỳ;

b) Mạch nha: về tính vị, sách "Thương dịch bản thảo" ghi: mạch nha vị ngọt, mặn, tính ấm; sách "Toàn quốc trung thảo dược hội biên" ghi: vị ngọt, tính binh, về quy kinh, sách "Lôi công bào chế dược tính giải" ghi: vào hai kinh tỳ và vị; sách "Bản thảo hội ngôn" ghi: vào các kinh: túc thái âm kinh, dương minh kinh và thù dương minh kinh. Mạch nha cỏ công năng tiêu thực, hoà trung, hạ khí, thoái nhũ (làm giảm tiết sữa) [TDTH, 1996,11:9];

c) Mầm lúa mạch: Vị ngọt, đắng, tính ôn; vào hai kinh tỳ và phế; có công năng tiêu thũng, lợi thấp, lý khí [TDTH, 1993,1: 283];

d) Rơm lúa mạch: Vị ngọt, hơi đắng, tính ôn; vào hai kinh tỳ và phế; có công năng tiêu thũng, lợi thấp, lý khí;

e) Bã rượu lúa mạch: Vị chua, hơi hàn, có công năng sơ phong lý khí, hoạt huyết chỉ thống [TDTH, 1993,1: 284],

Công dụng

Lúa mạch (hạt) được dùng cho người biếng ăn, ăn không tiêu, trướng bụng, đầy hơi, bị viêm ruột gây khó tiêu. Ngày 30 - 60g hạt lúa mạch, sao lên, rồi sắc uống; hoặc 20 - 30g sao lên, nghiền thành bột uống, uống liền 3-5 ngày. Mạch nha có chứa enzym thuỳ phân tinh bột thành các chất đường có phân tử lượng nhỏ hơn, nên giúp cho sự tiêu hoá thức ăn có tinh bột. Ngoài ra, bản thân mạch nha cũng có chất đường phân từ lượng nhỏ, chất béo protid, lecithin, các vitamin Bl, c nên có tác dụng bồi dưỡng tốt. Thường được dùng cho người ăn uống kém tiêu, bụng đầy trướng, chán ăn, chống bệnh do thiếu vitamin Bl, c. Với mạch nha, ngày dùng 12 - 13g, sao qua, tán bột uống, hãm uống hoặc sắc uống. Còn có thể dùng cao mạch nha, mỗi lần 5 - 20g, ngày 3 lần; kẹo mạch nha, mỗi lần 20 - 40g, ngày 2-3 lần. Cao mạch nha dầu cá hoặc cao mạch nha dầu gấc, ngoài các thành phần của cao mạch nha, còn có các vitamin A, D nên là nguồn đầy đù chất dinh dưỡng hơn, mồi lần 5 - 20g, ngày 3 lần. Để giảm sữa, chữa chứng vú cãng sữa gây đau hoặc để cai sữa ở phụ nữ nuôi con bú, dùng mạch nha 90g, sắc uống trong ngày, uống liền 3 ngày.

Thân và lá non cây lúa mạch được dùng chữa tiểu tiện không thông. Ngày 30 - 60g sắc uống. Lúa mạch còn được dùng làm lương thực, thay thế cho lúa mì, gạo, ngô, để chế bia, rượu; làm bánh mi, bánh quy và nhiều loại bánh khác. Rơm cây mạch nha được dùng cho trâu bò ăn.

Ở Ấn Độ, lúa mạch được dùng cho người tiểu tiện khó, làm dễ tiêu hoá, là thức ăn tốt cho người bị ia chảy, đau bụng, khó tiêu, bụng trướng đầy, người bị bệnh hoặc mới ổm dậy. Thường dùng dạng cháo lúa mạch. Dùng cháo mạch nha còn dễ tiêu hơn cháo lúa mạch. Có thế thêm đường và chanh. Nếu thêm sữa thì không được thêm chanh. Để làm thực phẩm cho trẻ em, dùng cháo lúa mạch, thêm sữa, hai thứ bằng nhau, thêm đường vừa đủ để dễ ăn hơn [Nadkarni, 1999: 653- Chatterfee, 2001, VI: 64], Theo y học cồ truyền Ayurveda (Ản Độ), mạch nha được dùng chữa viêm phế quản, buồn nôn, nôn, hen, làm ăn ngon tăng cân, cải thiện được giọng nói, chữa loét bỏng, thiếu máu, để thông tiểu tiện. Theo y học cổ truyền Yunani, lúa mạch để chống khát, chống buồn nôn, chữa viêm phế quản, nhức đầu, đau ngực, viêm lợi, sốt; mạch nha làm dịu, dễ tiêu hoá, thường dùng trong thực đơn của người ốm. Bột hạt được dùng nhiều dưới dạng cháo. Ở Patna (Ấn Độ), tro của lá hoà vào nước quả để uống cho mát, còn ở Punjab (Ấn Độ), tro của thân cây lúa mạch để chữa khó tiêu [Kirtikar et al., 1998, IV: 2702; Srivastava, 1989: 71].

Ở Trung Quốc, mạch nha được dùng chữa tỳ hư, thức ăn tích trệ không tiêu, bụng đầy trướng: thân cây lúa mạch được dùng chữa tiểu tiện không thông, tâm giảo thống (tim đau thắt), ngày 30 - 60g. sắc nước uống [TDTH, 1993, I: 283 - 4]. ở Malaysia, mạch nha cũng được dùng để kích thích tiêu hoá, làm dễ tiêu, làm dịu và long đờm.

Bài thuốc có lúa mạch

Chữa tỳ vị hư hàn, ăn không tiêu

Mạch nha, đảng sâm, phục linh, bạch truật, mỗi vị lOg; thảo quả, trần bì, hậu phác, mỗi vị 5g; gừng khô, cam thảo, mỗi vị 3g, sắc nước uống. ngày 1 thang. Có thể dùng bài thuốc sau: lúa mạch sao vàng, sơn tra, mỗi vị 12g, sắc nước uống.

Chú ý: Phụ nữ có thai cần thận trọng khi dùng mạch nha, phụ nữ đang nuôi con bú không nên dùng, trừ trường hợp muốn cai sữa, hoặc vú căng đau.

Lúa Mạch 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC