Vị thuốc vần L

Lúa Mì

04:03 11/07/2017

Triticum aestivum L.

Tên đồng nghĩa: Triticum sativum Lamk.

Tên khác: Lúa miến, tiểu mạch.

Tên nước ngoài: Wheat (Anh), blé (Pháp).

Họ: Lúa (Poaceae).

Mô tả

 Cây sống hằng năm, rễ chùm hình sợi. Thân thẳng đứng, cao 0,8 - 1,5m, mọc thành cụm thưa, nhẵn. Lá xếp thành hai dãy, hình mũi mác dài hay hình dải rộng, gốc có bẹ nhẵn, lưỡi bẹ ngắn, đầu nhọn.

Cụm hoa là bông đày đặc, khi chín cong xuông. Bông nhỏ đơn độc, dẹt, hình bầu dục, nhăn hoặc có lông, màu trắng nhạt hay hồng, mang 3-5 hoa (thường là 4). Mày hình bầu dục rộng, có mũi nhọn, không đều nhau. Nhị 3. Bầu có lông ở đỉnh.

Quả hình bầu dục hoặc thuôn, có lông ở đỉnh.

Phân bố, sinh thái

Lúa mì là loại cây lương thực chủ yếu ở vùng ôn đới ấm và đã được trồng từ thời cổ đại. Cây trồng nhiều ở tất cả các quốc gia thuộc châu Âu, Liên bang Nga, Bắc Phi, Bắc Mỹ, Trung Cận Đông, Trung Á và Trung Quốc. Lúa mì cũng đã nhập nội vào Việt Nam từ những năm 1960. Cây được trồng ở Mộc Châu - Sơn La, Điện Biên, Trùng Khánh - Cao Bằng và Hà Giang. Tuy nhiên, do hạn chế về năng suất nên những điểm trồng lúa mì trên cũng chỉ dừng ở phạm vi thử nghiệm và hiện không còn trồng nữa.

Lúa mì là cây ưa sáng, ưa khí hậu ẩm mát, nên cây trồng ở nước ta trước đây chỉ thấy vào vụ xuân - hè. Cây gieo hạt vào đầu mùa xuân, đến mùa hè đã cho thu hoạch. Trong khi đó, thời vụ gieo trồng lúa mì trên thế giới, tuỳ theo vùng lãnh thổ và loại giống có thể khác biệt nhau. Toàn bộ vòng đời của cây chỉ kéo dài dưới 6 tháng.

Cách trồng

Lúa mì được gieo trồng, nhân giống bằng hạt như cây lúa nương của đồng bào dân tộc.

Thời vụ gieo trồng tốt nhất vào vụ xuân vì lúc đó có mưa xuân, thời tiết rất thuận lợi để cây trong nẩy mầm phát triển.

Đất trồng lúa mì cần cày bừa kỹ, sau rạch hàng hay bổ hốc (đất dổc) với khoảng cách 30 X 30 cm hay 30 X 40 cm.

Phân bón lót chủ yếu là phân chuồng, thêm một ít lân, bón thúc bằng phân chuồng mục và đạm urê.

Chăm sóc lúa mì chủ yếu làm cỏ, xới đất.

Lúa mì ít có sâu bệnh phá hoại, nếu có cũng phải phun thuốc phòng trừ như trồng cây lúa nước.

Thu hoạch lúa mì cũng như lúa nương, cây chín đều gặt về, đập hoặc tuốt lấy hạt, rồi phơi khô, thân, lá có thể dùng để làm việc khác.

Bộ phận dùng

Hạt.

Thành phần hoá học

Trong hạt lúa mì chứa nhiều nhóm chất quan trọng như:

Các chất khoáng: Ca, Mg, p, Fe, Na, K, Zn, V, Cu, s, Cl, Si, Be, Cd, Cr, Mn. Mo, Ni, Sr, T, Co và phytin - phospho các enzym: a - amylase, proteinase, peptidase, asparagin - synthetase, cytindin - deaminase, oxidase, lipoxidase, CO - enzym, acid glutamic decarboxylase (CA. 1976, 85, 37259.x).

Các vitamin: caroten, thiamin, riboflavin, acid nicotinic, cholin, tocophenol, xanthophyl (lutein). Các carbohydrat như tinh bột, cellulosa, hemicellulosa, levosin, sorleosa (CA, 1976, 85, 23392v).

Các protein như cytochrom c (một loại haemoprotein) các acid amin như: arginin, histidin, isoleucin, leucinlysin, methionin, phenylalanin, valin, threonin, tryptophan, adenin tyamin, cholin, betain.

Các chất màu: carotenoid. p - caroten (CA 1977,86, 111187m). Một lượng nhỏ flavonoid như: flavonoid A,B, tricin (5, 7, 4 - trihydroxy - 3, 5 - dimethyiflavon, rhodiolosid ranunculin, luteolin - c - glucosid (CA, 1964, 61, 218211), polysaccharid và phytosterol (CA, 1965, 63, 6016h) [Nayudamma Y et al., 1976, The wealth of India, vol. 10, p.360]; [Giang Tô tân y học viện 1975, Trung dược đại từ điển quyện I, tr. 422, 423, 448, 2284 quyển II, tr.2251, 2257, 2327, 1012, 1117, 1483, quyển IIl.tr. 1246, 1477, 1481].

Tác dụng dược lý

Một thuốc thảo dược Trung Quốc là một hỗn hợp của hạt lúa mì, rễ cam thảo và đại táo có tác dụng rõ rệt trên chứng mất ngủ, co giật trẻ em và dễ bị xúc động. Đã làm sáng tỏ cơ chế tác dụng an thần của thuốc này, nghiên cứu tác dụng trên các dòng ion qua màng và tác dụng gây tê, và đã đạt các kết quả sau:

a) Thuốc có tác dụng ức chế các dòng natri, calci và kali ở tế bào thần kinh ốc sên;

b) Thuốc có tác dụng ức chế trên hoạt tính kích thích gây bởi pentylentetrazol;

c) Thuốc có tác dụng gây tê trên các sợi dây thần kinh ếch. Các kết quả nghiên cứu gợi ý thuốc này có tác dụng ức chế trên tính tăng hưng phấn của màng tế bào thần kinh và đây là nguvên nhân chính của tác dụng an thần của thuốc (Tsuda T et al„ 1986).

Sự phân giải chất xơ của thực phẩm trong dạ dày và ruột được nghiên cứu trên 13 người tình nguyện nam giới khỏe mạnh. Thức ăn lỏng đối chứng được so sánh với thức ăn thử nghiệm, thức ăn thử nghiệm được cho thêm một lượng chât xơ (cám lúa mì). Chất xơ trong cám lúa mì được thuỷ phân trong dạ dày, (nhưng không được thủy phân trong ruột non), với tỷ iệ 5 - 8%. Sự tạo thành arabinose tự do được dùng để định lượng sự thủy phân chất xơ trong thực phẩm. Sự hấp thu arabinose tự do ở ruột là 85 - 93% (Andersen J.R etal., 1988).

Nồng độ cholesterol trong huyết thanh động vât giảm khi cho thêm lipopolysaccharid từ bột lúa mì và một lipoprotein từ lúa mì vào nước uống. Sau khi ngừng cho thêm lipopolysaccharid từ lúa mì vào nước uống, nồng độ cholesterol trong huyết thanh đã giảm trong 30 - 40 ngày và sau đó tăng lên đần. Nồng độ trong huyết thanh của apolipoprotein B, là một thành phần cùa apolipoprotein của lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL). cũng giảm phù hợp với cholesterol trong huyết thanh với tỷ lệ gần trùng khớp. Ngược lại, nồng độ apolipoprotein của lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) không thay đổi và HDL - cholesterol cùng không thay đổi.

Ngoài ra, yếu tố nguy cơ xơ vữa động mạch được biểu thị bằng tỷ lệ apoliproteìn B so với apolipoprotein A] đã giảm sau khi uống lipopolysaccharid từ bột lúa mì (Okutomi T. et al„ 1992).

So với đối chứng không có chất xơ, các phân đoạn khác nhau của ngũ cốc không ảnh hưởng đên sự tiêu thụ thức ăn hàng ngày và sự tăng cân. Chế độ ăn với bột mì trắng và bột mì toàn phần làm cho manh tràng rộng ra rõ rệt và gây sự lên men acid (pH khoảng 6,2), trong khi cám có tác dụng này kém hơn. Có vẻ như bột mì trắng hơi làm tăng sự lên men giàu propionat (tăng 62%), trong khi cám giúp cho sự lên men giàu butyrat (tăng 178%). Bột mi trắng hoặc cám không ảnh hưởng có ý nghĩa đến sự bài tiết steroid toàn phân, nhưng bột mì toàn phằn có ành hưởng (tăng 41%).

Bột mì toàn phần làm giảm có ý nghĩa cholesterol huyết. Tuy nhiên, tất cả các chế độ ăn với ngũ cốc làm giảm có ý nghĩa lipid trong gan, bột mì toàn phần có tác dụng mạnh nhất (giảm 54%). Tóm lại, toàn bộ hạt lúa mì có tác dụng làm hạ cholesterol và triglycerid trong máu, và việc chia tách hạt lúa mì làm thay đổi tác dụng có ích cho sức khoẻ (Adam A et al., 2002).

Cho chuột nhắt trắng uống một lipopolysaccharid từ bột mì, với nồng độ 20 nanog/ml trong nước uống, bắt đầu một ngày sau khi gây nhiễm khuân cấp tính với Toxoplasma gondu, đã làm giảm có ý nghĩa tỷ lệ chuột chết và dự phòng sự giảm thể trọng trong nhiễm khuẩn cấp tính. Trong khi 71% (5/7) chuột nhắt trắng trong nhóm đối chứng không được cho uống lipopolysaccharid bột mì đã chết do nhiễm Toxoplasma, chi có 14% (1/7) chuột được uống lipopolysaccharid bột mì chết. Việc cho uống lipopolysaccharid tinh chế từ Bordeíella pertussis cũng làm giảm có ý nghĩa tỷ lệ chuột chết (Suzuki Y. et aL 1992).

Tác dụng của một lipopolysaccharid từ bột lúa mì trên sự tiêu xương của vòm sọ phôi gà con 18 ngày đã được nghiên cứu trong thí nghiệm nuôi cấy in vitro. Xương đã được đánh dấu phóng xạ trước trong môi trường nuôi cấy chứa 45Ca. Khi cho thêm các mẫu thử, calci đánh dấu được giải phóng cho thấy mức độ tiêu xương. Lipopolysaccharid từ bột mì (10 - 100 microg/ml) kích thích sự tiêu xương cho thấy một tác dụng có thể so sánh được với tuyến cận giáp. Lipopolysaccharid từ bột mì được cho là kích thích sự tiêu xương mạnh hơn nội tiết tố tuyến cận giáp (Kawashima K. et ai., 1992).

Cho gà mái uống một lipopolysaccharid từ bột mì với liều 60 microg/gà/ngày trong nước uống, đã làm tăng rõ rệt sức bền của vỏ trứng. Tỷ lệ % của trứng đẻ trong một tháng có sức bền của vỏ trên 4kg so với tổng số trứng là 32% trong nhóm được cho lipopolysaccharid bột mì trong nước uống, trong khi tỷ lệ này là 12% trong nhóm đối chứng được cho uống nước thường. Đồng thời, lipopolysaccharid bột mì làm tăng 30% tổng số trứng đẻ trong một tháng so với ở nhóm đối chứng (Suzuki J et ai., 1992).

Cao nước Sesim - Tang, một thuốc cổ truyền Triều Tiên có tác dụng ức chế sự tiết yếu tố hoại tử u alpha (TNF - alpha) từ tế bào hình sao được kích thích bởi lipopolysaccharid. Việc xử lý tế bào bị kích thích bởi lipopolysaccharid với Sesim - Tang làm giảm tiết interleukin - 1 (IL - I). Tác dụng ức chế sự tiết TNF - alpha của Sesim - Tang có thể do hoạt tính ức chế tiết IL - 1 và do tác dụng chống viêm ở hệ thần kinh trung ương. Các thành phần của Sesim - Tang gồm: lúa mì, phục linh, bán hạ Trung Quốc, nhân sâm, ô đầu, thạch xương bồ, cam thảo bắc và hai vị khác (Kim H.M et al„ 2002).

Trong lúa mì có chứa gramin là một alcaloid indol không terpenoid, có tác dụng gây giãn mạch. Đã so sánh tác dụng của gramin với tác dụng của ketanserin, một chất đối kháng với thụ thể của 5 - HT2A, cả hai hợp chất đều có tác dụng gây giãn mạch phụ thuộc vào nồng độ trong thí nghiệm in vitro trên các vòng động mạch cô lập được gây co trước. Đường cong biểu diễn nồng độ 5 - HT - tác dụng chuyển dịch về bên phải khi có gramin, giống như ketanserin. Các kết quả này gợi ý gramin là một chất gây giãn mạch, tác dụng chủ yếu do đối kháng với các thụ thể của 5 - HT2A (Froldi A et a!., 2004).

Cây lúa mì có hoạt tính chống oxy hoá tương đương hoặc cao hơn một số củ quả và rau như: nghệ, tỏi, rau cải (spinach), hành tây, dâu tây, mận, cà rốt. Có mối liên quan giữa hoạt tính chống oxy hoá và hàm lượng các hợp chất phenolic trong đó có các flavonoid. Cây lúa mì được báo cáo là có tác dụng điều trị trong nhiều bệnh như viêm loét ruột kết mạn tính và bệnh thiếu máu Địa Trung Hải. Ngoài ra, cao chiết mầm lúa mì cỏ hoạt tính chống gây đột biến có khả năng ức chế sự tổn thương oxy hoá ADN và cỏ tác dụng làm mất hoạt tính chuyển hoá của các tác nhân gây ung thư.

Cao nước lúa mì là một chế phẩm giàu chất chống oxy hoá. Mạ lúa mì tươi mọc từ 7 - 8 ngày có hoạt tính chống oxy hoá cao. Cao chiết mạ lúa mì có thể dùng làm chất bồ sung thực phẩm cho các hợp chất chống oxy hoá như polyphenol và flavonoid (Kukarni S.D et al., 2006).

Tính vị, công năng

Hạt lúa mì có vị ngọt, tính mát, có tác dụng làm săn phân.

Công dụng

Hạt lúa mì rang lên, sắc uống, có tác dụng chữa tiêu chảy. Ăn bánh mì mà không ăn kèm thêm rau thì bị táo bón.

Theo kinh nghiệm của nhân dân Tunisi, dùng rạ lúa mì sắc uống làm gầy người, sút cân [Lê Trần Đức, 1997: 1085-1087],

Theo kinh nghiệm của nhân dân Ấn Độ, hạt lúa mì có tác dụng làm mát, chứa dầu; bổ, tăng dục, nhuận tràng, làm cho béo, làm tăng sự ngon miệng và vị giác, có tác dụng trị đa tiết mật. ở Trung Quốc, hạt rang lên được coi là có tác dụng trị chứng ra nhiều mồ hôi, đặc biệt trong bệnh lao phổi ở phụ nữ [Kiritkar K.R. et al., 1998: 2700 - 2701],

Trong y học dân gian Italia, mầm lúa mì hâm trong dầu ô - liu, được dùng ngoài, xoa trên da đầu để chữa chứng rụng tóc (De Feo v., 1992). Hạt lúa mì sao cháy được dùng uống trị ho. Cám lúa mì sắc với nước hoặc ngâm trong nước lạnh, lấy nước bôi trên da trị viêm da. Hạt rang nóng, bọc trong gạc đắp trị bệnh khớp. Hạt lúa mì còn được dùng trị viêm họng (Pieroni A. et al., 2002; 2004; 2005). Nước sắc cám lúa mì dùng để rửa và tẩm gạc đắp với giấm trị bong gân. Bột lúa mi trôn với nước hoặc dầu ô - liu và đẳp để trị viêm đầu ngón tay, bỏng và vết thương. Dầu mầm lúa mì trộn với mật ong bôi lên vết bỏng làm mau lên sẹo vết bỏng. Đe một ít bột mì lên bụng ướt, hoặc uống bột mì hoà trong nước mỗi buổi sáng trong 5 ngày để làm giảm đau dạ dày, có tác dụng làm mát. Nhai bánh mì trong thời gian lâu và đắp lên đề hút mủ. Mành vụn bánh mì được tẩm ướt và đắp trị viêm tấy lợi. Hạt lúa mì nhai rồi đắp lên trên gai đâm ở da để lấy gai ra. Đắp bột mì với mạng nhện trị vết thương. Cho bò cái ăn cám lúa mì để tăng tiết sữa (Gwarrera P.M et al., 2005a; 2005b).

Hạt và cám lúa mì được dùng ngoài làm thuốc giảm đau. Đun cám với nước và giấm, bọc trong một miếng vài lanh để đắp. Đắp bột mì trên vết bỏng da. Trộn bột mì với mật ong và bôi để làm mụn mưng mù (Sherrer A.M et al., 2005). Lúa mì được dùng trong thú y để chữa bệnh đường tiêu hoá, bệnh về bộ máy vận động, bệnh da và vết thương và rối loạn sinh sàn ở gia súc (Uncini Manganelli R.E et al., 2001; Viegi L. et al., 2003).

Trong y học dân gian Israel, chồi cây lúa mì được dùng trị ung thư. sắc 200g chồi non trong một lít nước và uống mỗi lần 200ml, ngày 3 lần. Hạt lúa mì trị thiểu máu, sắc lOOg hạt, đun sôi trong một lít nước trong một giờ và uống mỗi lần 150 ml, mỗi ngày 3 lần. Hạt còn được dùng trị bệnh da; ngâm hạt trong nước trong một giờ rồi đắp vào vùng bị bệnh (Said o. et al., 2002).

Trong y học dân gian Tây Ban Nha, bánh mì nướng được dùng trị giun sán, để thanh lọc máu (dùng ăn) và để trị bệnh trĩ (dạng thuốc rửa) (Agelet A. et al., 2003). Trong thú ý, cám lúa mì được dùng làm thuốc sát trùng và chống viêm cho bò cái sau khi đẻ, dưới dạng nước sắc cùng với một số dược thảo (Bonet M.A et al., 2007).

Trong y học dân gian Croatia, hỗn hợp bột mì, bơ, trứng, đường và nước được nướng và ăn để lợi sữa. Quấy chín bột mì với sữa cho trẻ con ăn có tác đụng bổ (Pieroni A et al., 2003). Ở Arghentina nhân dân dùng bột mì để trị bướu cổ, để 3 thìa bột mì vào một miếng vải, rồi buộc chặt vào xung quanh phần trên của cổ, sao cho bột mì tiếp xúc trực tiếp với da. Thay bột mì hàng ngày cho tới khi khỏi. Đề gây nôn, trộn 3 thìa bột mì với 3 thìa sữa trong một cái bát, uống hỗn hợp này cho tới khi nôn (Scarpa G.F et al., 2004).

Bài thuốc có lúa mì

1. Chữa tiêu chảy ra nước

Bột mì rang cháy uống với nước cơm, hay với nước chè, liều lượng không hạn chế.

2. Chữa trẻ em tiêu chảy kéo dài

Hạt lúa mì, ý dĩ, đều sao, sắc uống thay nước, hoặc tán bột, cho ăn hàng ngày thì khỏi [Lê Trần Đức, 1997: 1085-1087].

 

Lúa Mì 4.85/5 (96.70%) 6 votes
DANH MỤC CÁC VỊ THUỐC